Tìm kiếm thông tin
Vị quan nào nổi tiếng tài giỏi giúp vua Lý Nhân Tông "đánh" giặc Tống, ghi nhiều công lớn vang danh sử Việt?

Ông là người đỗ thủ khoa đầu tiên của nền khoa cử Việt Nam, nổi tiếng thông minh, uyên bác, từng được vua Lý Nhân Tông tin tưởng giao nhiều trọng trách. Dù trải qua nhiều biến cố, song hậu thế vẫn tôn vinh ông là bậc hiền tài, mở đầu cho truyền thống khoa bảng nước ta.
1. Ông là ai?
A. Nguyễn Hiền
B. Đào Sư Tích
C. Lê Văn Thịnh
D. Mạc Đĩnh Chi

=> Đáp án: C
Lê Văn Thịnh là người đầu tiên đỗ thủ khoa của nền khoa cử Việt Nam. Ông là nhân vật tiêu biểu của triều Lý với trí tuệ uyên bác và tài năng xuất chúng.
Thông tin về năm sinh, năm mất của ông không được ghi rõ ràng. Theo bản cảo của Hàn lâm Lễ Viện sĩ Đông Các điện, đại học sĩ Lê Tung (soạn tháng 1/1470), Lê Văn Thịnh sinh năm 1050. Chiếu theo đó, khi đỗ thủ khoa, Lê Văn Thịnh đã 25 tuổi.
Không chỉ để lại dấu ấn trên con đường khoa bảng, Lê Văn Thịnh còn góp công lớn trong việc gìn giữ bờ cõi Đại Việt. Cuộc đời ông gắn với nhiều thăng trầm, song tên tuổi vẫn được hậu thế kính trọng như một bậc hền tài mở đầu truyền thống khoa cử dân tộc, có tài kinh bang tế thế, một nhà cải cách chính trị, kinh tế đại tài đưa đất nước phát triển cường thịnh.
Trong khi đó, 3 trạng nguyên còn lại là Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Đào Sư Tích là những trạng nguyên nổi tiếng dưới thời nhà Trần.
2. Lê Văn Thịnh là trạng nguyên đầu tiên của nước ta?
A. Đúng
B. Sai

=> Đáp án: B
Trạng nguyên là danh hiệu cao nhất mà sĩ tử ngày xưa có thể đạt được trong các kỳ thi nho học. Muốn trở thành trạng nguyên, người đó phải đỗ đầu, đạt điểm tuyệt đối trong các kỳ thi Đình.
Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu trong kỳ thi năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông. Đây là kỳ thi nho học đầu tiên của nước ta nên về sau Lê Văn Thnhj được một số tài liệu ghi là trạng nguyên đầu tiên. Nhưng thực tế, dưới thì nhà Lý, triều đình chưa định ra chế Tam khôi (lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa), nên Lê Văn Thịnh không được phong trạng nguyên. Do đó, nếu gọi Lê Văn Thịnh là trạng nguyên là chưa chính xác.
Giaáo sư sử học Lê Văn Lan, thông qua những nghiên cứu của mình, cũng giải thích rằng: Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, "năm Ất Mão (1075), tuyển lấy những người minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh đỗ đầu, được chọn vào hầu vua học. Khoa cử nước ta bắt đầu từ đấy."
Cũng theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, phải đến năm Bính Ngọ (1246), triều đình mới tổ chức thi "đại tỷ". Khoa thi năm Bính Ngọ, danh hiệu trạng nguyên thuộc về Nguyễn Quán Quang, người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc (nay thuộc phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
3. Lê Văn Thịnh quê ở đâu?
A. Hà Nội
B. Bắc Ninh
C. Nghệ An
D. Thanh Hóa

=> Đáp án: B
lLê Văn Thịnh sinh ra và lớn lên tại hương Đông Cứu, xưa thuộc xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, phủ Thiên Đức, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, tỉnh Bắc Ninh).
4. Cha của Lê Văn Thịnh làm nghề gì?
A. Làm ruộng và dạy học
B. Dạy học và bốc thuốc trong làng
C. Làm quan nhỏ trong triều
D. Thợ thủ công

=> Đáp án: B
Tương truyền, cha mẹ ông là người nhân từ, thường giúp đỡ tất cả những ai có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn. Cha ông vừa dạy học vừa bốc thuốc trong làng và ngay từ khi còn nhỏ, Lê Văn Thịnh đã được cha dạy dỗ cẩn thận.
5. Lúc nhỏ, Lê Văn Thịnh nổi tiếng với phẩm chất gì?
A. Giỏi võ nghệ
B. Giỏi ăn nói, ứng đối
C. Tài vẽ tranh, làm thơ
D. Thông minh, nhớ lâu và hiếu học

=> Đáp án: D
Lê Văn Thịnh nức tiếng thông minh, học đâu nhớ đấy và nhớ rất lâu. Ông rất hiếu học, thường chong đèn đọc sách đến khuya, mẹ phải giục nhiều lần mới đi ngủ. Nhờ chuyên cần như thế nên năm 13 tuổi, Lê Văn Thịnh đã nổi tiếng là người thông kinh sử, hiểu biết rộng. Mọi người trong vùng và bạn bè gọi ông là thần đồng.
Naăm Lê Văn Thịnh 18 tuổi, cả cha lẫn mẹ ông đều qua đời. Ông dời đến sống ở trang Chi Nhị (tỉnh Bắc Ninh) và mở trường dạy học ở đây. Dân trong vùng biết tiếng ông nên cho con theo học rất đông.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều đình tổ chức thi tuyển Minh kinh bác học và thi nho học tam trường. Đây là khoa tthi đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. "Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học", sách viết.
6. Trong sự nghiệp quan trường, Lê Văn Thịnh từng được vua Lý Nhân Tông cất nhắc lên chức quan cao nhất nào?
A. Thái úy
B. Thái phó
C. Thái sư
D. Tể tướng

=> Đáp án: C
Sau khi đỗ đạt, Lê Văn Thịnh được hầu vua học, sau trải thăng chức Nội cấp sự, rồi Thị lang bộ binh vào năm Bính Thìn (1076).
Sau khi thành công trong cuộc thương nghị biên giới với nhà Tống năm 1084, Lê Văn Thịnh được vua Lý Nhân Tông tin tưởng phong giữ chức Thái sư (1085)- chức quan đứng đầu hàng văn võ triều đình, thể hiện uy tín và tài năng kiệt xuất của ông.
7. Lê Văn Thịnh từng dùng cách gì để buộc nhà Tống trả lại vùng đất biên giới mà họ đã chiếm của Đại Việt?
A. Dùng binh đánh thắng quân Tống
B. Nhờ nước Chiêm Thành can thiệp
C. Dùng tài ngoại giao để thương thuyết
D. Đưa vàng bạc hối lộ để đổi lấy đất

=> Đáp án: C
Theo Đại Việt sử kí toàn thư, năm 1084, Lê Văn Thịnh khi ấy là Thị lang bộ binh đã được vua sai đến trại Vĩnh Bình cùng người Tống bàn việc cương giới. Trước đó, khi được vua hỏi ý kiến về việc định biên giới, Lê Văn Thịnh đã trả lời rằng:" Việc dùng binh đao để đòi đất là bất đắc dĩ, xin bệ hạ cho phái đoàn khác lên biên giới thương thuyết".
Tài liệu của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh có ghi lại cuộc thương thảo giưa Lê Văn Thịnh và nhà Tống. Theo đó, Ông đã nói với sứ giả nhà Tống rằng:" Đã là đát thì phải có chủ, các viên quan được triều đình nhà Lý giao cho giữ đất để bảo vệ biên thùy mà đem nộp cho nhà Tống rồi lại trốn đi thì đất ấy đích thực là vật ăn trộm. Việc này luật pháp Đại Việt không những không cho phép mà còn làm dơ bẩn sổ sách của vua quan nhà Tống vì đã nhập nhầm đất do thổ dân ăn trộm." Sứ thần nhà Tống cứng họng trước lý lẽ sắc bén, cách trả lời cứng cỏi của Lê Văn Thịnh.
8. Lê Văn Thịnh đã lấy lại cho Đại Việt bao nhiêu huyện, động?
A. 3 huyện 6 động
B. 5 huyện 2 động
C. 6 huyện 3 động
D. 7 huyện 4 động

=> Đáp án: C
Bằng tài ngoại giao, lập luật chặt chẽ và phân giải mọi lẽ, ông khiến phía Tống đồng ý trả lại 6 huyện và 3 động thuộc châu Quảng Nguyên mà họ từng chiếm.
Sự việc không chỉ khẳng định khả năng ngoại giao của Lê Văn Thịnh mà còn có ý nghĩa lớn về mặt lãnh thổ đối với Đại Việt: thu hồi đất bị chiếm mà không phát động chiến tranh lớn, Sau thành công này,ông được triều đình tôn trọng và sau đó được phong chức thái sư (1085).
9. Chình sách thuế khóa ruộng đất do Lê Văn Thịnh đề xuất dưới triều Lý có ý nghĩa gì?
A. Làm lợi cho tầng lớp địa chủ, hào phú
B. Tăng nguồn thu cho quốc khố
C. Chỉ nhằm giảm thuế cho nông dân
D. Chủ yếu để lấy tiền xây chùa

=> Đáp án: B
Trong thời gian giữ chức Thái Sư, ông đã có ý kiến sáng suốt và quyết định rất quan trọng trong việc phát triển đất nước và giữ vững biên cương, ổn định trong triều đình.
Lê Văn Thịnh định ra việc tô thuế, đây là lần đầu tiên chính sách thuế khóa ruộng đất của triều Lý được ban hành. Việc định tô này rất có lợi cho quốc khố nhưng lại làm cho thành phần hữu sản, tầng lớp trên (chủ yếu là quan lại triều đình và hào phú địa phương) bị thiệt hại.
Ngoài ra, Lê Văn Thịnh còn chú trọng tuyển người tài trong giới nho sĩ, cho những người đỗ đạt làm quan thay dần các sư tăng. Ông cho sắp xếp lại các chùa chiền, cải tổ lại cách quản lý các tự viên vốn có nhiều thế lực ở các địa phương, đưa các quan văn quản lý tự viên. Điều này đã làm hạn chế quyền lực các sư tăng một cách đáng kể.
Sự nghiệp cải cách lại các quy định hành chính quốc gia dưới thời Lê Văn Thịnh diễn ra rất quyết liệt, mâu thuẫn giữa các thế lực trong triều đình ngày càng gia tăng. Những thế lực bị mất đi quyền lợi của mình (là lực lượng đông đảo từng có công lao đối với triều đình) thì ngày càng căm ghét chính sách của Lê Văn Thịnh. Chính vì vậy, những thế lực này luôn tìm cách ám hại ông.
10. Thái sư Lê Văn Thịnh đã vướng phải án lớn gì khiến sự nghiệp sụp đổ?
A. Âm mưu phản giết vua
B. Có quan hệ mật thiết với cung tần của vua
C. Bị tố cáo tham nhũng, chiếm đoạt của công
D. Liên kết với ngoại bang để cướp ngôi vua
![]()
=> Đáp án: A
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại vụ án năm 1096 Lê Văn Thịnh mưu làm phản:" Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm (tức hồ Tây- Hà Nội), ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nôi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát, mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói việc nguy rồi. Người đánh cá là Mạc Thận quang lưới trùm lên con hổ thì ra lại là Thái sư Lê Văn Thịnh... Trước đấy, Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý, có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch."
Vụ án hồ Dâm Đàm được người đời bàn luận. Nhiều thuyết chio rằng Lê Văn Thịnh bị hàm oan do vương tôn triều Lý ghen tị với ân sủng vua ban cho vị Thái sư ngoại tộc nên ngấm ngầm hãm hại.
Giới sử học Việt Nam trong hội thảo khoa học đánh giá lại sự kiện lịch sử năm 1096 trên hồ Dâm Đàm cũng chio rằng, Lê Văn Thịnh không mưu đồ giết vua. Ông bị dựng chuyện hãm hại do đại diện cho gới Nho học đưa ra những ý tưởng cải cách kinh tế, xã hội làm ảnh hưởng quyền lợi của giới tăng lữ, quý tộc.
Trước đó, là người đứng đầu bâ quan văn võ thời bấy giờ, Thái sư Lê Văn Thịnh đã quân sư cho vua Lý Nhân Tông thực hiện việc đổi mới đất nước. Những cải cách này có lợi cho nhân dân, cho quốc gia nhưng đụng chạm đến nhiều nhóm lợi ích trong triều nên Lê Văn Thịnh bị thù ghét và bị hãm hại.
11. Thái sư Lê Văn Thịnh đã bị xử tội như thế nào với "án mưu phản giết vua"?
A. Xử tử
B. Đi đày
C. Giam trong lao ngục

=> Đáp án: B
Thái sư Lê Văn Thịnh mắc phải tội mưu phản giết vua, theo luật, lẽ ra ông bị xử tử, tru di tam tộc như lịch sử sau này lặp lại với vụ án Lệ Chi Viên của quan đại thần Nguyễn Trãi. Tuy nhiên, vua Lý Nhân Tông nghĩ ông là đại thần có công lớn nên tha tội chết, xử đày lên trại đầu Thao Giang (vùng đất thuộc Phú Thọ ngày nay).
12. Thái sư Lê Văn Thịnh sau khi mất đã được thờ tự như thế nào?
A. Được vua cho lập đền thờ
B. Người dân tự lập đền thờ
![]()
=> Đáp án: B
Sau khi mất, ông được đưa về quê chôn cất. Người dân vùng Bảo Tháp (xã Đông cứu) đã lập đền thờ vị thái sư có nhiều công trạng.
Ngoài Bảo Tháp nơi quê hương ông, còn có Chi Nhị, Phù Ninh (nơi xưa ông dạy học), ở Thị Xá (quê ngoại của ông) là những nơi thờ Lê Văn Thịnh.
Bên cạnh đó còn có "Ngũ đình nội" vừa thờ tướng Doãn Công, Đào Nương (thờ Hai Bà Trưng) vừa thờ Thái sư Lê Văn Thịnh. Ở ngoài khu vực quê hương ông còn có đền Đỉnh Tổ cũng thờ Lê Văn Thịnh.
Các di tích thờ Lê Văn Thịnh nêu trên đa phần được xây dựng, tu bổ vào thời Lê. Các tư liệu hiện vật hiện nay còn lưu giữ trong những di tích này như: sự tích về Lê Văn Thịnh, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối, đại tự... đều có niên đại xưa nhất là thời Lê.
13. Hàng năm, người dân địa phương tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn Thái sư Lê Văn Thịnh vào ngày nào?
A. Ngày 3 tháng Giêng (âm lịch)
B. Ngày 5 tháng Giêng (âm lịch)
C. Ngày 7 tháng Giêng (âm lịch)
D. Ngày 10 tháng Giêng (âm lịch)
![]()
=> Đáp án: C
Theo tài liệu của Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, hàng năm nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội vào ngày 7 tháng Giêng (âm lịch) để tưởng nhớ công ơn Thái sư Lê Văn Thịnh.
(theo Tri thức và cuộc sống)
Trần Nam @ 00:18 15/09/2025
Số lượt xem: 67
- Ai là "con trưởng" của vua Trần Thái Tông, từng được chọn kế vị, sau phải “nhường” ngôi cho em trai, có công trong sử Việt? (13/09/25)
- Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam xuất hiện lần đầu khi nào? (08/09/25)
- Ai là Trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam, nổi tiếng đuổi giặc bằng một hòn đá, phò tá vua Trần Thái Tông? (07/09/25)
- Ai là người trực tiếp bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài ngày 2/9/1945? (02/09/25)
- Thử tài kiến thức lịch sử với 10 câu đố về các nhân vật lịch sử Việt Nam (02/09/25)
Một số bài toán chọn lọc ở Tiểu học



Các ý kiến mới nhất