HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Violympic, Vioedu, TNTV

Olympic Vioedu IOE Tiếng AnhTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC GẮN VỚI BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN VÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC!

QPVN

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

HÀNH TRÌNH PHÁ ÁN

Liên kết Website

Bộ Ngành - Báo Chí

Ngân hàng - Web khác

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

LỊCH SỬ VIỆT NAM

QPVN

Thành viên trực tuyến

24 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Lịch sử - Hồ sơ > Sự kiện - nhân vật >

    Tấm bản đồ vẽ Đại Việt Quốc do công ty Cóvens Mortier Amsterdam in năm 1760

    bn__i_vit_1760_500

    Đây là tấm bản đồ vẽ Đại Việt (大越) trong giai đoạn thuộc nhà Lê Trung Hưng (茹黎中興) hay còn gọi Lê Phục Hưng vẽ vào năm 1760. Các địa danh trên bản đồ này tồn tại trong khoảng thời gian 1533-1789.

    Nhà Lê nguyên thủy tồn tại trong khoảng (1428–1527) và nhà Lê Triều Lê phục hưng tồn tại trong khoảng (1533–1789) hợp thành nhà Hậu Lê.

    Chúng ta hãy thử lần xem trên bản đồ này ghi những gì:

    */ Đàng Ngoài (Bắc Hà).

    - Phía Bắc: trước đây là quận Giao Chỉ, người châu Âu định danh là GANNAM TONKIN (Về phía Nam - Đông Kinh hay Đàng Ngoài), cái tên Annam hay Tokin là các cha cố Âu châu ký âm theo cách gọi của người Hán, trước đây nhiều luận cứ đều đổ tội cho người châu Âu, họ gọi như vậy là để kinh miệt xứ ta - thật là sao lầm và oan ức.

    Lúc bấy giờ đất quận Giao Châu tồn tại các địa danh: ke Tay, ke Bac, ke Don, ke Nan. Tức tương ứng Hà Tây, Hà Bắc, Hà Đông, Hà Nam sau này. Xưa nó là đất của An Dương Vương.

    - Vùng đất của người Lô Lô (lolos) xưa của đất nước Nam Chiếu ở phía góc Tây Bắc của bản đồ.

    Còn phía Đông Bắc bản đồ có ghi là TENAN thì cho đến nay tôi vẫn chưa dịch ra nó là từ gì. Có người bảo là địa danh Kiến An (Quảng Yên) nhưng chưa được khảo chứng vì thời đó không biết Kiến An - Quảng Yên liệu đã có chưa?

    - Dịch về phía Nam có địa danh TINHOA tức Thanh Hoa, trước đây nó chính là đất của quận Cửu Chân, sau này nữa đổi thành đất Châu Ái, xa hơn nữa là đất của nhà nước Văn Lang.

    - Dịch tiếp vào Nam đến đất Ghean tức Nghệ An. Trước đây vùng đất này của các bộ lạc Việt Thường Thị, châu Hoan.

    - Dịch tiếp vào Nam là đến đất Boshin tức Bố Chính. Sau này chính là huyện Quảng Trạch và Bố Trạch (QB). (từ Hoành Sơn cho đến sông Dinh). Tại đây, Bắc Hà và Nam Hà được phân chia bởi lũy Náu nằm trên bờ Nam của sông Dinh (sông Chánh Hoà). Cho tới khi Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1630) giới tuyến này mới chính thức được dịch chuyển ra sông Gianh. Tuy nhiên trong mấy lần đụng độ lớn giữa quân Chúa Trịnh và quân Chúa Nguyễn thì đa số quân Trịnh vượt sông Gianh vào đánh quân Nguyễn tại lũy Đầu Mâu và Trấn Ninh. Từ sông Gianh vào lũy Thầy dài khoảng hơn 50 km, đi bộ cũng phải mất 1 ngày. (Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí - Ng Khoa Chiêm, Nam Hà Tiệp Lục - Lê Đản, Việt Sử xứ Đàng Trong - Phan Khoang, Trên đường Nam tiến - Vũ Văn Mẫu...).

    Thời Bắc Thuộc nó là đất cực Bắc của quận Nhật Nam.

    Đến lũy Náu là hết đất xứ ANNAM TONKIN (Đàng Ngoài).

    */Đàng Trong (Nam Hà).

    - Dịch tiếp vào Nam tiếp là đất phủ Quanbim (tức Quảng Bình xưa thời Champa là châu Địa Lý ), trấn Toanhoa (Sinuua: chữ Ý - tức Thuận Hoá tức châu Ô, Lý thời Champa, Quận Nhật Nam thời Hán thuộc lần 1), xứ Cochinchina tức Đàng Trong hay vùng đất phía Nam Trung Hoa. Một số luận cứ cho rằng Cochin là Giao Chỉ nhưng theo tôi người châu Âu ký âm từ Cổ Chiên (Cổ Chiêm) thuộc Tàu, mội từ cổ của người Việt ám chỉ các bộ tộc người Chàm, nên nhớ trước năm 111 tr CN thì vùng đất này là vùng đất của các thị tộc. Sau 111tr CN nhà Hán Vũ Đế bắt đầu đặt nền cai trị lấy tên là Nhật Nam, từ Hoành Sơn Quan vào đến đèo Cả (Phú Yên). Năm 43 - 541 thuộc thời Đông Hán, lãnh thổ Việt Nam hiện nay thuộc bộ Giao Chỉ - gồm 9 quận, tức là lãnh thổ nước Nam Việt cũ cộng thêm đất 3 quận Đạm Nhĩ, Chu Nhai và Nhật Nam. Khi người Nam Đảo tràn vào và biến cố Khu Liên (tạo nên nhà nước Lâm Ấp) năm 137 thì vùng này vẫn có người Rợ, một tộc người cổ nhân của vùng này dưới sự cai quản của người Hán và họ đặt tên hành chính là : Tây Quyển, Tỵ Ảnh, Chu Ngô, Lô Dung, Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam.

    DinCoy : dinh Ngói.

    DinCa: dinh Cát.

    (Khi này, những cái tên như Hà Tịn, Quảng Trị, Huế...chưa hề có, nhưng gần 500 năm sau, cái tên Quảng Bình lại bị xoá sổ. Đúng là đẻ trước thì chết trước).

    - Dịch tiếp vào Nam:

    Cuham: Cu Hà (gần đèo Hải Vân). Có sách nói địa danh này gần Ải Vân mà không chỉ rõ ở đâu. Nhiều người bảo nó là Cầu Hai (Huế) đọc trại mà thành. Hoặc giả nữa nó là xứ Hà Thân dọc theo hữu ngạn sông Hàn có gốc tích hơi hưởng của Chàm: Câu Hà, Cu Hà, Câu Bà, Cu Bà... với Bà là một dòng họ của người Chàm...

    Turon: có sách ghi là Ponte de Kénan - Cuahan: cửa Hàn . (Latte de Touron = vịnh Đà Nẵng). Tức Đà Nẵng.

    Ông G. Cordier, viết trong cuốn sách”Coura de langue Annamite” giải thích về nguồn gốc chữ Tourane như sau:

    “Tourane, theo một vài người, là nói trại chữ Câu Ranh, theo vài người khác, là nói trại chữ Đà Nẵng mà người Trung Hoa ở Hải Nam phát âm thành Tou-Nang còn người bản xứ gọi là Cửa Hàn”.

    Pousson: (?).

    Faifo: nay là Hội An.

    Din ciam: dinh chàm hay dinh Quảng Nam.(ciam = cổ chiêm, câu chiêm, cu chiêm, thanh chiêm). Một số bản đồ ghi Cacham: chữ Latin, Ca Chão: chữ Bồ. Cacciam: chữ Ý chính là để ký âm của từ Câu Chiêm.

    Xin nói thêm Cu Đê = Cu Chiêm và ở Quảng Nam thời đó có các địa danh vẫn còn lưu âm Chàm như: Cu Đê, Câu - Cu Nhí, Câu - Cu An, Câu - Cu Lâu, Câu - Cu Hà, Ngân Cu - Câu, Đà Cu - Câu, Cu - Câu Chiêm. …

    Lê Quý Đôn khi viết về các sách người Man và người Đê nước Nam Bàn, ở phía tây Phú Yên, giải thích rằng: “Tục gọi Đê là người Chàm, Man là người Mọi”. Đê (低) cũng là Chàm (占).

    Cu = Cụ = Câu là các biến thể của Câu Chiêm.

    Hai địa danh Câu Chiêm (俱占) và Cụ Đê (俱低) được ghi bằng chữ Nho trong chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, bản chữ Nho).

    Falin: Tánh Linh.

    Quanhia: Quảng Ngãi.

    Quinhin: Quy Nhơn.

    Ranran: Phan Rang.

    Fumoy: Phủ Mọi (sau hình như đổi thành Phú Yên?).

    Kẻ MOY: tức kẻ Mọi, gồm các dân tộc tiểu số trên dãi Trường Sơn và Tây Nguyên.

    CIAMPA: vùng đất của người Champa.

    Ngoài ra, người Champa có những cái tên như Chàm, Tượng Lâm, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Hồ Tôn Quốc, Chiêm Thành, Thuận Thành, Chiêm Ba, Chiêm Tư, Chiêm Phù Lao, Tiểu quốc Anh Hoa, Nam Bàn (tiểu quốc Jarai, Rhade), nước Thủy Xá (Patao Ea) và Hỏa Xá (Patao Apui) ... và 5 địa khu :

    - Indrapura (nay là vùng đất từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế),

    - Amaravati (nay là Quảng Nam, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi),

    - Vijaya (Bình Ðịnh, Phú Yên),

    - Kauthara (Khánh Hòa),

    - Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận)...

    Hai địa danh Câu Chiêm (俱占) và Cụ Đê (俱低) ghi bằng chữ Nho trong chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, bản chữ Nho). ...

    Nguyên âm từ chữ Tchampa là chữ Phạn mà ra, nó cũng là tên của một loài hoa sứ: hoa chăm pa.

    ...

    Căn cứ vào màu của từng quốc gia trên bản đồ này thì Quần đảo I.Pracel bao gồm Baixos và Pracels (tức Hoàng Sa và Trường Sa) và cả đảo Hải Nan (Hải Nam) đều thuộc về Đại Việt.

    (ST/FB)


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Tuấn Anh @ 08:28 12/10/2025
    Số lượt xem: 32
    Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Tuấn Anh)
     
    Gửi ý kiến

    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA !