HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Violympic, Vioedu, TNTV

Olympic Vioedu IOE Tiếng AnhTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC GẮN VỚI BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN VÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC!

QPVN

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

HÀNH TRÌNH PHÁ ÁN

Liên kết Website

Bộ Ngành - Báo Chí

Ngân hàng - Web khác

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

LỊCH SỬ VIỆT NAM

QPVN

Thành viên trực tuyến

6 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Lịch sử - Hồ sơ > Sự kiện - nhân vật > Trắc nghiệm lịch sử >

    6 câu đố về tác phẩm nổi tiếng của văn học trung đại và Bộ Quốc sử đàu tiên của Việt Nam

    Những câu đố về thơ xuân thời trung đại - Báo VnExpress

    "Chinh phụ ngâm", "Cung oán ngâm khúc", "Truyền kỳ mạn lục" là của tác giả nào, được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm?

    Văn học trung đại Việt Nam được hình thành và phát triển từ thế kỷ 10 đến hết thế kỷ 19, gồm văn học chữ Hán và chữ Nôm. Văn học chữ Hán xuất hiện sớm, tồn tại trong suốt quá trình hình thành và phát triển của văn học trung đại, bao gồm cả thơ và văn xuôi. Thể loại phong phú gồm chiếu, biểu, hịch, cáo, truyện truyền kỳ, ký sự, tiểu thuyết, chương hồi, phú, thơ cổ phong, thơ Đường luật...

    Văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn (khoảng cuối thế kỷ 13), tồn tại, phát triển đến hết thời kỳ văn học trung đại, chủ yếu là thơ, rất ít văn xuôi.

    Trong văn học chữ Nôm, chỉ một số thể loại tiếp thu từ Trung Quốc như phú, văn tế, thơ Đường luật, còn phần lớn là các thể loại văn học dân tộc, như: ngâm khúc (viết theo thể song thất lục bát), truyện thơ (lục bát), hát nói (viết theo thể thơ tự do kết hợp với âm nhạc) hoặc thể loại văn học Trung Quốc đã được Việt hóa như thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn.

    Câu 1: Ai là tác giả của "Chinh phụ ngâm khúc" - tác phẩm viết theo lối tập cổ, ra đời thế 18?

    A. Nguyễn Du

    B. Đặng Trần Côn

    C. Hồ Xuân Hương

    D. Nguyễn Bỉnh Khiêm

    Văn mẫu lớp 9: Phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 3  Dàn ý & 14 bài phân tích Chinh phụ ngâm

    => Đáp án: B

    Đặng Trần Côn là tác giả của "Chinh phụ ngâm", được xem là kiệt tác văn học viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Tiểu sử của Đặng Trần Côn các tư liệu đề cập rất ít, kể cả năm sinh năm mất cũng không biết chính xác. Các nhà nghiên cứu ước đoán ông sinh vào khoảng năm 1710 đến 1720, mất khoảng 1745, sống vào thời vua Lê chúa Trịnh.

    "Chinh phụ ngâm" (nghĩa là lời than vãn của người phụ nữ có chồng đi đánh trận, tên gọi khác "Chinh phụ ngâm khúc") ra đời năm 1741, về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm. Tác phẩm chủ yếu viết theo lối tập cổ dài 476 câu thơ theo thể trường đoản cú; câu dài nhất khoảng 12-13 chữ, câu ngắn chỉ 3-4 chữ. Một đoạn trích 12 câu của bài thơ này đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn trong chương trình THCS.

    "Chinh phụ ngâm" nói lên tâm sự của người vợ có chồng đang rong ruổi nơi biên thùy thời loạn lạc. Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người tham gia chiến cuộc.

    Trong bối cảnh này, người vợ hình dung cảnh chồng lên đường phò vua giúp nước, ra đi với quyết tâm giành hàng loạt thành trì dâng vua, hùng dũng trong chiếc chiến bào thắm đỏ và cưỡi con ngựa sắc trắng như tuyết. Cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuê phòng và tưởng tượng ra cảnh sống của chồng nơi chiến địa.

    Kết thúc khúc ngâm, người chinh phụ hình dung ngày chồng chiến thắng trở về giữa bóng cờ và tiếng hát khải hoàn, được nhà vua ban thưởng và cùng nàng sống hạnh phúc trong thanh bình, yên ả.

    Có nhiều bản dịch và phỏng dịch tác phẩm này của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn, Phan Huy Ích. Bản dịch thành công và phổ biến nhất xưa nay theo thể song thất lục bát được cho là của Đoàn Thị hoặc Phan Huy Ích.

    Câu 2: "Cung oán ngâm khúc" là tác phẩm văn học kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ gì?

    A. chữ Hán

    B. chữ Nôm

    C. chữ Latinh

    Một bản in Cung oán ngâm khúc.

    Một bản in "Cung oán ngâm khúc".

    => Đáp án: B

    "Cung oán ngâm khúc" là sáng tác của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798). Ông sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, là cháu ngoại chúa Trịnh Cương.

    Nguyễn Gia Thiều học rộng, am hiểu nhiều môn nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. "Cung oán ngâm khúc" viết bằng chữ Nôm, theo bản in khắc ván năm 1902 dài 356 câu thơ song thất lục bát.

    Khúc ngâm trường thiên là lời tự bạch nỗi niềm cô đơn chán chường của người cung nữ bị bỏ rơi, đồng thời cũng là lời gửi gắm những suy tư của tác giả về nhân sinh và thế giới. Tác phẩm rất giàu sức biểu cảm, có tiếng nói trữ tình từ cảnh ngộ cá nhân của nhân vật trữ tình, vừa có tiếng nói triết lý về kiếp nhân sinh từ những suy tư của tác giả. 

    Theo các nhà nghiên cứu văn học, với tác phẩm này, thể song thất lục bát đã đi đến chỗ hoàn thiện ở mức đỉnh điểm: cách luật hoàn toàn chặt chẽ, chuẩn mực, không chấp nhận những ngoại lệ như ở các tác phẩm khác. Ngôn ngữ văn học được gọt giũa kỹ càng, biện pháp điệp từ sử dụng rất khéo léo, tạo cảm xúc.

    Trải bách quế gió vàng hiu hắt
    Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
    Oán chi những khách tiêu phòng
    Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
    Duyên đã may cớ sao lại rủi
    Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang
    Vì đâu nên nỗi dở dang
    Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình.

    Câu 3: Ai là tác giả của tác phẩm "Truyền kỳ mạn lục"?

    A. Nguyễn Du

    B. Nguyễn Dữ

    C. Nguyễn Khuyến

    D. Nguyễn Đình Chiểu

    Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ: Biểu hiện và căn nguyên bất bình đẳng giới  | Báo Giáo dục và Thời đại Online

    => Đáp án: B

    "Truyền kỳ mạn lục" là tác phẩm duy nhất của danh sĩ Nguyễn Dư (thường được gọi là Nguyễn Dữ), sống vào khoảng thế kỷ 16. Tác phẩm được Nguyễn Bỉnh Khiêm (thầy dạy tác giả) phủ chính, Nguyễn Thế Nghi dịch ra chữ Nôm, được đánh giá là "thiên cổ kỳ bút".

    Nhiều bản dịch nguyên tác ra chữ quốc ngữ, trong đó bản dịch của Trúc Khê năm 1943 được coi như đặc sắc nhất. Theo lời tựa của Hà Thiện Hán (người cùng thời) viết năm 1547 thì Nguyễn Dữ viết ra tập lục này để ngụ ý thời gian ông ẩn cư ở rừng núi xứ Thanh.

    Trong "Từ điển Văn học", nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân cho biết trong thế kỷ 16, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ trước, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay.

    Muốn phản ánh thực tế phong phú, lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Do đó, Nguyễn Dữ dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. 

    Tác phẩm gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán, theo thể loại tản văn (văn xuôi), xen lẫn biền văn (văn có đối) và thơ ca, cuối mỗi truyện có lời bình của tác giả hoặc của một người có cùng quan điểm của tác giả. "Truyền kỳ mạn lục" vì vậy tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ 16.

    Câu 4: "Truyện họ Hồng Bàng", "Truyện Tản Viên", "Truyện Đổng Thiên Vương" nằm trong tác phẩm nào?

    A. Sấm Trạng Trình

    B. Việt điện u linh tập

    C. Lĩnh Nam chích quái

    D. Đại Việt Sử ký toàn thư

    Minh họa một truyện trong tác phẩm Lĩnh Nam chích quái của NXB Kim Đồng.

    => Đáp án: C

    "Lĩnh Nam chích quái" có nghĩa là chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam. Đây là tập hợp truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần.

    Ở "Lĩnh Nam chích quái", những truyện tích thần kỳ được góp nhặt và ghi chép lại thể hiện quan niệm của ông cha về lịch sử dân tộc, phong tục tập quán, cách đối nhân xử thế. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, qua thời gian được sự nhuận sắc, chỉnh sửa, bồi đắp của nhiều thế hệ các nhà nho Việt Nam.

    "Lĩnh Nam chích quái" bản cổ gồm 22 truyện, có những truyện thần thoại thời thái cổ như "Truyện họ Hồng Bàng", "Truyện Tản Viên", "Truyện Đổng Thiên Vương"... Tác phẩm còn có truyện về sự tích thời Bắc thuộc, như: "Truyện Việt tỉnh" (Giếng Việt), "Truyện Nam Chiếu" hay  những truyện là thần tích thời Lý - Trần như "Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không", "Truyện Hà Ô Lôi".

    Ngoài ra, "Lĩnh Nam chính quái" còn có những truyện gắn với nguồn gốc dân tộc Việt như "Truyện Ngư tinh", "Truyện Hồ tinh", "Truyện Mộc tinh" hoặc có liên quan với những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Việt như "Truyện bánh chưng", "Truyện trầu cau".

    Câu 5: Tác phẩm nào được xem là cuốn tiểu thuyết lịch sử theo lối chương hồi, phác họa bức tranh về đời sống chính trị ở Việt Nam những thập kỷ cuối thế kỷ 18?

    A. Truyện Kiều

    B. Bình Ngô đại cáo

    C. Thượng kinh ký sự

    D. Hoàng Lê nhất thống chí 

    Đọc Hoàng Lê nhất thống chí | Tao Đàn

    => Đáp án: D

    "Hoàng Lê nhất thống chí", tên gọi khác "An Nam nhất thống chí", là tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán, nằm trong bộ "Ngô gia văn phái tùng thư" của các tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, Thanh Oai, Hà Nội. Tác phẩm viết theo thể chí, lối văn ghi chép sự vật, sự việc do một số tác giả kế tục nhau viết, trong nhiều thời điểm.

    Đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi, ghi chép về sự thống nhất vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh trả lại Bắc Hà cho vua Lê đến khi Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, thống nhất cả nước. 

    Toàn bộ tác phẩm gồm 17 hồi. Bảy hồi đầu là phần chính biên do Ngô Thì Chí viết, mười hồi tiếp theo là phần tục biên, trong đó có bảy hồi được cho là Ngô Thì Du viết, còn ba hồi cuối cùng viết có tính chất chắp vá, lại có cả những sự việc thời Tự Đức, tương truyền do Ngô Thì Thuyết viết.

    Bản dịch "Hoàng Lê nhất thống chí" của nhóm tác giả Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch được cho là trung thành với nguyên tác hơn các bản dịch khác.

    6. Ai là người đặt nền móng đầu tiên và biên soạn "Đại Việt sử ký toàn thư"- bộ quốc sử đầu tiên của nước Việt Nam?

    A. Lê Hy

    B. Nguyễn Du

    C. Ngô Sĩ Liên

    D. Lê Văn Hưu

    Đại Việt Sử Kí Toàn Thư

    => Đáp án: D

    Quá trình phát triển của bộ sử:

    Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu: Đây là bộ sử đầu tiên ghi lại lịch sử Việt Nam từ thời Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng, được hoàn thành vào năm 1272. 

    Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên: Ngô Sĩ Liên đã dựa vào bộ sử của Lê Văn Hưu, biên soạn và hoàn thành công trình của mình vào khoảng năm 1479, đặt tên là "Đại Việt sử ký toàn thư". 

    Hoàn thành bản khắc in năm 1697: Đến thời Lê Hy Tông, Tham tụng Lê Hy cùng các quan văn tiếp tục biên soạn, khảo đính, hoàn chỉnh bộ sử và cho khắc in công bố vào năm 1697, đúng với tên gọi "Đại Việt sử ký toàn thư". 

    Như vậy, "Đại Việt sử ký toàn thư" là một sản phẩm của nhiều thế hệ sử gia, trong đó Ngô Sĩ Liên là người biên soạn chính và Lê Văn Hưu là người đặt nền móng với bộ sử tiền thân. 

    (Tổng hợp)


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Mai @ 09:30 07/10/2025
    Số lượt xem: 145
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA !