Tìm kiếm thông tin
Những lang y có bài thuốc quý dân gian từng đăng trên Lao Động & Đời sống

Sau khi Báo Lao Động & Đời sống đăng tải chuyên mục “Những bài thuốc quý dân gian”, rất nhiều bạn đọc đã liên hệ về tòa soạn để hỏi địa chỉ và cách thức liên lạc với những vị lang y này. Tòa soạn xin gửi tới độc giả và những người quan tâm thông tin liên lạc trực tiếp với các vị lang y. Hy vọng những thông tin dưới đây sẽ có ích với bạn đọc. Cám ơn sự quan tâm và tin cậy mà bạn đọc đã dành cho Lao Động & Đời sống.
|
STT |
Tên lang y |
Chữa bệnh |
Địa chỉ |
Số điện thoại |
|
1 |
Bà Bùi Thị Nhổ |
Chữa bệnh ung thư |
Xóm Tre, xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, Hà Bình |
0167 821 7532 |
|
2 |
Ông Hà Công Thầm |
Chữa bệnh vô sinh |
Xóm Chiềng Châu, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, Hòa Bình |
0976 277 058 |
|
3 |
Bà Hà Thị Tiến |
Chữa bệnh gan |
Xóm Ngõa, xã Mường Hịch, huyện Mai Châu, Hòa Bình |
0169 836 9943 |
|
4 |
Bà Bùi Thị Di |
Chữa bệnh viêm xoang |
Xóm Hồng, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, Hòa Bình |
0165 767 0452 |
|
5 |
Ông Đỗ Chí Quyết |
Chữa bệnh tiểu đường |
Thôn Phú Sơn, xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, Hòa Bình |
0917 239 676 |
|
6 |
Bà Trần Thị Thảo |
Chữa hiếm muộn |
Xóm Trung Thành A, xã Hợp Thịnh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình |
0165 998 0180 |
|
7 |
Ông Nguyễn Văn Lễ |
Chữa bệnh dạ dầy |
Thôn Cua Chù, xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Tây (nay là Tp. Hà Nội) |
0167 7243 919 |
|
8 |
Ông Lương Huy Ngò |
Chữa bệnh thận yếu |
Số nhà 24, tổ 4, phố cổ, thị trấn Đồng Văn |
0123 485 8173 |
|
9 |
Bà Bùi Thị Chiên |
Chữa bệnh gan, thận, đại tràng, dạ dày |
Xóm Sáng Ngoài, xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình |
0168 347 5959 |
10. Bà Lê Thị Tình, Chữa bướu cổ, Xóm Vặn, Xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, Hà Nội, 01638264865
11. Ông Lang Bùi Văn Tô, trị trĩ, Kim Bôi, Hòa Bình, 0978074729
12. Thầy Phùng Văn Anh, chữa vô sinh, Tây Sơn, Phú Thọ,
13. Bà lang Miến, chữa viêm cầu thận, xóm mỏ, xã Dân Hạ, Kỳ Sơn, Hòa Bình, ĐT: 01295179661
14. Cô Dương Thị Hải Yến, thôn Cao Đường, xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, chữa gút . Số điện thoại: 0969 434 476
15. Ông Nguyễn Minh Chu, thôn Tiền Đình, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chữa sỏi thận, SĐT: 01657936879
“Đức ông trên núi Tản” - người thừa kế bài thuốc Nam đặc trị bệnh dạ dày
Ông Lê bên cây dạ cầm.Bài thuốc Nam 3 đời
Tiếp chúng tôi là một người có vẻ ngoài hiền lành, đức độ, mái tóc bạc trắng. Dù đã vào cái tuổi xưa nay hiếm nhưng trông ông vẫn còn nhanh nhẹn, minh mẫn. Cùng với lời nói từ tốn, mến khách, ông mời chúng tôi vào nhà. Lúc này, chúng tôi cũng hiểu được một phần vì sao ở địa phương ông được mọi người gọi là “Đức ông trên núi Tản”.
Sau khi mời khách vào nhà, ông Lê ôn tồn hỏi khách tìm đến có việc gì? Tôi nói: “Chúng tôi không phải là bệnh nhân mà là phóng viên của Báo LĐ&ĐS chuyên tìm tòi và viết về những bài thuốc quý trong dân gian. Được mọi người giới thiệu nên muốn đến tận nơi để được “mắt thấy tai nghe” về ông lang bốc thuốc Nam giữa vùng núi Tản Viên”.
Nghe nói vậy, ông không hề giấu giếm bài thuốc gia truyền của gia đình mình mà khẳng định: “Từ đời nội tôi đến đời bố tôi, rồi bây giờ là tôi đã trải qua 3 đời làm nghề thuốc Nam nhưng luôn tâm niệm một điều là chữa bệnh, giúp người như để tu nhân, tích đức cho con, cho cháu chứ không lấy nghề làm việc kinh doanh. Có thế tôi mới được trời cho 7 người con (4 trai, 3 gái) với trên 20 cháu, chắt nội ngoại như thế này”. Theo chứng kiến của chúng tôi, cuộc sống hiện tại của gia đình ông không lấy gì làm khấm khá. Một ngôi nhà cấp 4 lợp ngói cũ, có lẽ cũng đã được xây dựng từ hàng chục năm trước, nơi đó có tới 3-4 thế hệ vẫn đang sinh sống.
Hơn 50 năm làm thuốc chữa bệnh, ông không thể nhớ hết được đã có bao nhiêu bệnh nhân ở mọi miền đất nước tới nhờ ông chữa bệnh. Có người ở Nghệ An, Hà Tĩnh, cũng có người ở Hải Phòng, Quảng Ninh, và có cả bệnh nhân bay từ TPHCM ra nhờ ông bốc thuốc. Tuy nhiên, đa phần bệnh nhân vẫn là bà con quanh vùng vốn đã nhiều năm nay biết đến danh tiếng của ông lang Lê. Qua trò chuyện được biết, ông Lê được truyền nghề từ bà nội là Bùi Thị Thau, người dân tộc Mường vùng Kim Bôi, Hòa Bình. Từ khi còn là con gái, bà đã biết lấy cây thuốc chữa bệnh cho mọi người. Khi lấy chồng về vùng núi Tản Lĩnh, thấy trên núi Tản có nhiều cây thuốc quý nên bà vẫn theo nghiệp bốc thuốc Nam chữa bệnh cho mọi người. Sau ngày bà mất, nghề thuốc Nam được truyền lại cho bố của ông Lê, rồi khi người bố qua đời thì nghề được truyền lại cho ông. “Thực ra, bà và bố tôi không chữa được tất cả các loại bệnh mà chỉ tập trung vào 4 loại bệnh chính là bệnh gan, thận, thấp khớp, và công hiệu nhất vẫn là bệnh dạ dày”, ông Lê tự hào khi nói về bài thuốc gia truyền của gia đình mình.
Phương thuốc đặc trị bệnh dạ dày
Theo ông Lê, việc chữa bệnh bằng cây thuốc Nam không giống như bốc thuốc Bắc hay thuốc tân dược. Người chữa bệnh thuốc Nam thường chữa cả bằng tâm linh và bằng cây thuốc. Theo cách ông giải thích tôi mới hiểu được thời gian trước đây khi tìm hiểu về các bài thuốc quý dân gian của đồng bào vùng cao, các thầy lang thường thờ thần rừng, thần cây, thần núi... để người bốc thuốc lấy được đúng cây thuốc chữa cho khỏi cái bệnh. Theo cách gọi của y học hiện đại thì đây chính là “liệu pháp tâm lý” giúp cho bệnh nhân có niềm tin vào thầy thuốc và phương pháp trị bệnh. Người bệnh cảm thấy an tâm là bệnh tật tự nhiên sẽ được đẩy lui một phần.
Bài thuốc chữa bệnh dạ dày của ông Lê có tới trên 10 vị thuốc như nghệ đen, lá côi... nhưng không thể thiếu cây dạ cẩm. Cây này có lá to và dày như lá đa nhưng mềm như nhung và có 2 mặt xanh, tím. Ông Lê cho biết, cây dạ cẩm này với 2 mặt khác nhau, dẻo, mềm giống như cấu tạo của dạ dày con người. Trong thang thuốc, cây dạ cẩm giữ vai trò chính trong việc chữa bệnh. Cho dù là bệnh mới phát hiện, cho tới những người bệnh đã nặng chuyển sang viêm loét cũng chỉ uống thuốc theo chỉ dẫn của ông trong khoảng 2 tháng là sẽ khỏi bệnh. Mỗi thang thuốc uống trong 3 ngày, mỗi ngày 3 lần sắc uống. Sáng, trưa, tối trước hoặc sau bữa ăn khoảng 1 tiếng. Mỗi lần sắc uống đổ 3 bát nước đun cạn còn chừng 1 bát.
Không chỉ dựa vào bài thuốc Nam gia truyền 3 đời, ông Lê còn mua nhiều sách vở về nghiên cứu thêm. Trong tủ của ông có đầy đủ các bộ sách thuốc của danh y Hải Thượng Lãn Ông hay bộ sách của thầy thuốc Đỗ Tất Lê. Điều đáng ngạc nghiên là sau khi nghiên cứu, ông thấy những vị thuốc trong bài thuốc của gia đình ông có rất nhiều điểm tương đồng với các bậc danh y trước đây. Cũng từ đây, ông bổ sung thêm những khiếm khuyết trong bài thuốc của mình. Sau hơn 50 năm làm nghề bốc thuốc Nam, đến nay có thể khẳng định bài thuốc của ông Lê hoàn toàn dùng các loại thảo dược trên vùng núi Tản Viên, Ba Vì. Một số cây quý hiếm như lá côi, dạ cẩm đã được ông đưa về nhà trồng, lưu giữ. Đến nhà ông thấy trong vường rặt những cây thuốc rồi hàng chục loài chim hót líu lo cùng với cuộc sống thư thái, tự tại của vị danh y cũng đủ làm cho bệnh nhân thấy người khỏe ra và như đang được “tiên ông” trên núi Tản Viên ra tay cứu giúp vậy.
Ông bảo cuộc đời ông đã chữa nhiều người khỏi bệnh nên không nhớ hết. Bệnh nặng nhất mà ông nhớ được là anh Triệu Văn Bảng, người cùng xã bị bệnh viêm loét dạ dày, đã phải phẫu thuật cắt 2/3. Trở về, mỗi bữa ăn chỉ ăn được nắm cơm bằng quả cau, nhưng rồi không kiêng cữ được nên bệnh tái phát, đưa ra bệnh viện các bác sỹ cho về vì lý do… chẳng còn để mà cắt nữa. Lúc này gia đình anh Bảng mới “còn nước còn tát” đến nhờ ông cắt thuốc, sau 2 tháng miệt mài uống thuốc, sức khỏe anh Bảng dần ổn định, những cơn đau dạ dày cũng tan biến, đi kiểm tra lại ở bệnh viện thì bệnh đã khỏi hẳn. Đến nay mỗi dịp nhà ông Lê có công có việc gì là cả gia đình anh Bảng lên phụ giúp như con cháu trong nhà.
Do tuổi cao nên ông Lê cũng đang truyền lại nghề lại cho người con trai cả là anh Nguyễn Văn Tường, sinh năm 1960. “Dù tôi vẫn còn đủ sức khỏe, minh mẫn để bốc thuốc chữa bệnh cho mọi người nhưng cũng chẳng biết sống chết khi nào nên cũng phải truyền lại cho các con. Tôi vẫn luôn dặn dò các con, nghề bốc thuốc là giúp đời, cứu người, phải lấy cái tâm, cái đức để chữa bệnh, không được vụ lợi vật chất, tiền bạc”, ông Lê bảo.
Ông Lý Văn Nguyên – Trạm trưởng Trạm y tế xã Tản Lĩnh cho biết: “Ông Nguyễn Văn Lê là một trong những người tiên phong trong phong trào dùng cây thuốc Nam để chữa bệnh ở địa phương. Ông từng 10 năm làm Hội trưởng Hội Đông y của xã và với bài thuốc gia truyền 3 đời, nhất là bài thuốc đặc trị bệnh dạ dày đã giúp cho nhiều bệnh nhân khỏi bệnh. Có thể khẳng định bài thuốc Nam của gia đình ông Lê là một trong những bài thuốc quý dân gian cần được giới thiệu để nhiều người có cơ hội được chữa bệnh, nhất là với người dân nghèo”.
Thầy lang nức tiếng với bài thuốc chữa sỏi thận bằng lá cây tươi ở Bắc Giang
Bằng phương thuốc bí truyền, ông Nguyễn Minh Chu (SN 1931) trú tại thôn Tiền Đình, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, 60 năm qua đã chữa trị cho không biết bao nhiêu người khỏi bệnh sỏi thận, chỉ với một nắm lá cây tươi.
Dũng sĩ diệt Mỹ diệt sỏi thận
Ông Nguyễn Minh Chu có vẻ ngoài hiền lành, chân chất, chân đi đất, quần xắn ống cao ống thấp. Trong ngôi nhà ba gian thấp lè tè đã có những vị khách tứ phương đến xin thuốc. Chưa kịp để khách nói gì, ông cười nói: “Các chị trẻ thế này chưa mắc bệnh sỏi thận được. Các chị đến đây có việc gì? Đến hỏi thuốc cho người thân hả?”.
Ông Nguyễn Minh Chu sinh ra trong một gia đình nghèo có 5 anh chị em (3 trai, 2 gái). Tuy nhiên, ông lại là người duy nhất được bố truyền lại cho bài thuốc nam chữa sỏi thận gia truyền. Ông nói về bài thuốc gia truyền của gia đình với giọng đầy tự hào: “Từ đời ông nội, đời bố, rồi bây giờ tới lượt tôi là đã trải qua 3 đời làm nghề thuốc Nam, nhưng tôi luôn tâm niệm một điều là chữa bệnh, cứu người để tu nhân, tích đức cho con, cho cháu chứ không phải vì mục đích kinh doanh lợi nhuận”. Nơi ông Chu ở là một căn nhà ngói ba gian cũ kỹ, đồ đạc sơ sài. Tài sản trong nhà chỉ có chiếc tivi cũ là có chút giá trị. Nhưng với ông, quý giá nhất là những tấm bằng khen của Đảng, Nhà nước trao tặng, được ông treo ở vị trí trang trọng nhất trong nhà: Huân chương Kháng Chiến hạng Nhì, Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh Đoàn 559... Trong nhiều trận đấu, ông đạt được nhiều thành tích, nhất là trong trận đánh cao điểm 62 ở Quảng Ngãi. Sau hai ngày chiến đấu giằng co ở cao điểm 62, ông đã liều mình chuyển khẩu đại liên từ cao điểm về làng Hòa Vinh (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) và tiêu diệt được 47 lĩnh Mỹ. Ông vinh dự được nhận bằng khen Dũng sĩ diệt Mỹ.
Hơn 60 năm làm thuốc, chữa bệnh, ông không thể nhớ hết được có bao nhiêu bệnh nhân ở mọi miền đất nước nhờ ông chữa. Cuộc trò chuyện của chúng tôi liên tục bị ngắt quãng bởi những cú điện thoại. Có người điện thoại tới nói đang trên đường đến lấy thuốc như đã hẹn, có người ở tận Nha Trang - Khánh Hòa, thậm chí có cả bệnh nhân ở TPHCM cũng điện thoại cho ông để nhờ tư vấn bệnh tình. Ông Chu còn nhiệt tình gửi thuốc qua đường bưu điện cho bệnh nhân nếu họ không có điều kiện ra lấy thuốc. Tiếng lành đồn xa, số người tìm đến nhà ông Chu ngày càng nhiều.
Ông kể: “Tôi nhớ ngày bố tôi còn sống, khi ấy tôi mới lên mười, ông cụ đã cho đi rừng cùng. Tôi biết những loại lá cây làm thuốc chữa sỏi thận từ ngày đó. Lớn lên, tôi chỉ được giao làm các công việc hái lá, rửa lá và giã. Mãi tới sau này, khi sắp mất, cụ mới truyền lại nghề cho tôi. Cụ không chữa được nhiều bệnh, nhưng riêng với sỏi thận thì chưa đầu hàng trường hợp nào”, ông Chu tự hào khi nói về bài thuốc gia truyền của gia đình mình.
| Ông Nguyễn Minh Chu giới thiệu lá thuốc trong bài thuốc trị sỏi thận |
Phương thuốc đặc trị bệnh sỏi thận
Theo ông Chu, việc chữa bệnh bằng cây thuốc Nam, không giống như thuốc Bắc hay thuốc tân dược, mà phải chữa bằng cả tâm linh và cây thuốc. Qua cách lý giải của ông, chúng tôi mới hiểu tại sao các thầy lang thường thờ thần rừng, thần núi, thần cây để lấy được đúng cây thuốc chữa cho người bệnh. Ông cho biết: “Tôi lấy lá thuốc ở núi Ao Giời, núi Hóp. Trước khi đi hái thuốc, ra khỏi cổng, nếu gặp người là tôi lại phải quay về rồi đi lại. Có cây tôi cắt ngọn, có cây cắt cả gốc. Có loại lá tôi chỉ được lấy vào lúc 5h sáng, có loại lấy vào lúc chiều tối khoảng 17h. Ông Chu cũng cho biết thêm, lấy lá thuốc cũng cần “hợp tay”, trước kia anh trai ông cũng thử theo ông lên rừng hái lá thuốc nhưng không lấy được, trong khi ông hái rất nhiều lá.
Bài thuốc chữa bệnh của ông Chu có gần 20 vị như: Cây bông lá đề, lá cau, chắt chuyền, cỏ xước, nha đam… Bí quyết trong phương pháp bốc thuốc của ông là sử dụng trực tiếp lá tươi kết hợp với vài loại lá phơi khô chứ không sao vàng hạ thổ như những thầy thuốc khác. Các loại lá thuốc đem về, ông rửa thật sạch, để ráo nước rồi đem vào giã cối. Ông cho biết phải giã bằng tay thì lá mới tạo được bột và nhuyễn, chứ xay bằng máy thì không hiệu quả. Mỗi mẻ, ông giã tán trong khoảng 15 phút, lọc rồi pha chế với 1,5 lít nước sôi để nguội. Thuốc này uống trong ngày, thay cho nước lọc. Để dễ uống và bảo quản được lâu, người bệnh có thể cho vào tủ lạnh. Thấy chúng tôi tò mò về gần 20 vị thuốc, ông cười dí dỏm: “Tôi có nói hết 20 vị thì mọi người cũng không biết được đâu. Vả lại đây cũng là bí mật gia truyền, tôi xin phép không chia sẻ”.
Bài thuốc chữa sỏi thận của ông rất hiệu quả. Có những bệnh nhân sáng uống thuốc, chiều ra sỏi - đó là những trường hợp bị nhẹ. Có trường hợp sốt ruột muốn sỏi ra ngay, ông cho biết có thể làm được nhưng như vậy sẽ rất nguy hiểm, cần phải uống thuốc để sỏi mòn, ra từ từ. Với sỏi kích thước khoảng 1 - 2 ly, ông khẳng định chỉ uống thuốc nửa tháng là khỏi. Loại sỏi nặng 4 - 5 ly, chỉ cần uống hết 10 chai thuốc nước của ông là khỏi (mỗi chai 1,5 lít).
Tại nhà ông Chu, chị Nguyễn Thị Đào (Phủ Lý, Hà Nam) chia sẻ: “Tôi đã uống hết 10 lít nước thuốc của thầy và khỏi bệnh. Thuốc dễ uống vì mùi thơm, mát của cây cỏ. Nay tôi lại lên đây, đặt thầy làm thuốc cho đứa em gái. Em gái tôi cũng bị sỏi thận, đi chữa ở bệnh viện mà chưa có dấu hiệu thuyên chuyển gì”.
Ông Nguyễn Văn Thành, Hội Người cao tuổi thôn Tiền Đình cho biết: “Tôi bị sỏi thận hành hạ nhưng khi uống thuốc của ông Chu, được mấy hôm bệnh tình đã chuyển biến, đi tiểu đỡ buốt, tôi đặt uống thêm mấy chai cho dứt điểm”. Ông Thành cười sảng khoái.
Không chỉ có tài chữa sỏi thận, ông Chu còn chữa được rắn cắn. Người đi rừng, nếu bị rắn cắn, lấy lá bòn bọt chữa là hết độc. Trước hết băng chặt phần trên vết thương lại cho máu độc không lan rộng, sau đó đem thái hoặc giã lá bòn bọt, lọc lấy nước, cậy mồm bệnh nhân, đổ từ từ nước xuống cổ. “Đặc biệt, có cách chữa mẹo mà bố ông truyền lại, lấy vài sợi tóc, vò rối lại và đánh trực tiếp vào vết thương bị rắn cắn. Cách này có tác dụng loại bỏ nọc độc của rắn”, ông Chu cho hay.
Bài thuốc chữa xơ gan khó tin của bà lang người Thái ở Mai Châu
Bà lang Tiến.Bệnh xơ gan được coi là một trong “tứ chứng nan y”, đến nay y học hiện đại vẫn bó tay không chữa khỏi. Thế nhưng giữa bạt ngàn núi rừng Tây Bắc có một bà lang người dân tộc Thái tên là Hà Thị Đào - 68 tuổi, thường được gọi theo tên chồng là bà lang Tiến - đã tìm ra và kết hợp những dược liệu quý trên rừng chữa khỏi cho nhiều bệnh nhân xơ gan từng bị bệnh viện trả về.
Người trở về từ cõi chết
Trong thời gian chờ đợi bà Tiến từ trên rừng trở về, chúng tôi được người dân chỉ cho một bệnh nhân là người địa phương đã từng bị bệnh bụng phình to (bệnh xơ gan) theo cách gọi của người dân tộc Thái ở đây. Đó là anh Hà Văn Nhũng, 45 tuổi, ở bản Ngõa, xã Mai Hịch. Trước đây, anh Nhũng uống rượu nhiều nên bị bệnh xơ gan.
Tuy nhiên, đến năm 2010 anh mới phát hiện bệnh, được gia đình đưa xuống bệnh viện huyện, tỉnh để điều trị, nhưng các bác sĩ đành bó tay vì bệnh của anh đã quá nặng. Trở về, sức khỏe của anh Nhũng giảm sút nghiêm trọng, bụng phình to, đi lại vô cùng khó khăn. “Lúc đó dù mọi người không nói, nhưng tôi biết đã chuẩn bị hết mọi công việc hậu sự. Thương tôi, vợ và các con dù rất đau buồn nhưng vẫn cố giấu để cho tôi được vui vẻ” - anh Nhũng chia sẻ.
Đang lúc tuyệt vọng thì người trong bản mách đến nhà bà lang Tiến nhờ bà chữa giúp. Đã nghĩ bệnh viện trả về thì làm sao bà lang có thế cứu chữa được, nhưng thấy chồng đau đớn, vợ anh Nhũng cũng đến nhờ bà. Bà Tiến bảo cứ về lấy phiếu kiểm tra kết quả ở bệnh viện đưa đến, bà sẽ cắt thuốc cho. Lần đầu tiên bà cắt cho anh Nhũng 5 thang uống trong nửa tháng. Đến 10 ngày sau bụng đã bớt trướng và xẹp dần. Hết 5 thang đầu thì anh đã cảm thấy bệnh bị đẩy lui. Sau lần đó, anh lấy thuốc uống thêm 3 tháng nữa thì người như khỏe hẳn, ăn được, ngủ được.
Ngày tết anh đến cảm ơn, bà Tiến rót cốc rượu lá Mai Hạ (đặc sản Mai Châu) thơm lừng mời anh. Anh nhất quyết từ chối: “Cháu không uống đâu, được bà chữa khỏi bệnh, cháu sẽ không bao giờ uống dù 1 giọt rượu”. Bà Tiến bảo: “Đúng là bệnh của anh thì không nên uống rượu, nhưng giờ anh khỏi rồi, chỉ uống một chút thì không sao cả”.
Từ đó đến nay, mỗi lần nhà có công việc hay dịp lễ tết anh vẫn có thể ngồi uống với bạn bè, anh em mà không cần lo lắng đến bệnh tật trước đây. Điều quan trọng hơn là anh đã có sức khỏe để cùng vợ con đi nương đi rẫy, cuộc sống gia đình cũng bớt phần khó khăn, vất vả.
Bà lang của những bệnh nhân nghèo
Chiều xuống, chúng tôi quay lại nhà bà Tiến thì cũng là lúc bà vừa từ trên núi lấy cây thuốc về. Trên lưng gùi nặng những đoạn rễ cây vẫn còn ứa nhựa đỏ, bà Tiến mời chúng tôi vào nhà rồi giới thiệu: “Đó là cây bổ máu, thường mọc ở trên núi cao. Sau khi mang về cắt nhỏ, phơi khô sắc uống, có công dụng làm mát gan, giải nhiệt và bổ máu, rất cần trong bài thuốc chữa bệnh xơ gan”.
Bà Tiến kể, bà lớn lên trong một gia đình mà từ thời ông cha đã làm nghề thuốc. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông nội và cha bà đã nhiều lần được mời đi chữa bệnh cho các anh bộ đội ở bên bản Mường Hịch, cách nhà bà hơn 10 cây số đường rừng. Khi còn nhỏ, bà đã theo cha lên núi mang cây thuốc về chữa bệnh cho mọi người. Khi mới 12-13 tuổi, mỗi lần cha vào rừng hái thuốc, bà cũng đòi đi bằng được. Lúc đầu ông không cho theo, nhưng sau thấy cô con gái thực sự say mê nên ông cũng đồng ý. Rồi mỗi lần ông lội suối, leo đèo đi chữa bệnh cho mọi người, bà cũng xin đi theo bằng được để học cách chữa bệnh.
Dù có tuổi, nhưng bà Tiến vẫn ở ngôi nhà ven rừng ngay cạnh những ngọn núi cao để thuận tiện cho công việc tìm kiếm cây thuốc. Bà nói: “Ta còn ở đây, khi nào chân không leo được những con dốc, mắt không còn tìm được cây thuốc mới về ở cùng các con gần khu trung tâm xã. Ông trời còn cho ta sức khỏe, ta còn đi tìm cây thuốc chữa bệnh cho mọi người”.
Đến nay, bà lang Tiến đã chữa trị cho nhiều bệnh nhân ở gần có, ở xa như Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An cũng có. Nhiều người bệnh sau khi chữa trị ở các nơi hết tiền, giờ tìm đến đã được bà chữa trị, lo cho chỗ ăn nghỉ, nhiều lúc còn cho tiền tàu xe đi về. Người dân địa phương thì rất thích đến bà nhờ bà lấy thuốc giúp, vì vừa hết ít tiền mà hiệu quả thì trông thấy.
“Bà Tiến đúng là bà lang của những bệnh nhân nghèo” - anh Hà Văn Nhếch, một người dân trong bản cho biết. Phương thuốc đặc trị chữa bệnh xơ gan mà bà tiết lộ với chúng tôi gồm các loại cây dược liệu: Co dưỡng, co chỉ tai, nhổng nhểnh, là vàn và cây bổ máu được cắt thành thang, sắc uống đến khi nào nhạt nước thì thôi. Nặng thì có thể 3-6 tháng, nhẹ thì chỉ 15-30 ngày là khỏi.
Ngoài ra, bà lang Tiến còn có thể chữa khỏi nhiều bệnh khác, như trường hợp của anh Hà Công Vịu - 40 tuổi ở Tòng Đậu (Mai Châu) khỏi bệnh trĩ ngoại hay chị Đinh Thị Thẩm - 38 tuổi ở Bùi Trám (Lương Sơn) được bệnh viện kết luận là u não, không thể phẫu thuật và trả về, sau 3 tháng uống thuốc của bà Tiến khỏi bệnh, gia đình đưa chị lên Bệnh viện K kiểm tra lại thì hoàn toàn không còn u nữa. Mừng quá, ngay ngày hôm sau chị bắt xe lên gặp bà cảm ơn và xin bà Tiến nhận mình làm con nuôi.
Hội Đông y công nhận
Với những đóng góp trong việc bốc thuốc, chữa bệnh cứu người, tháng 2.2002, bà Tiến đã được Hội Đông y tỉnh Hòa Bình công nhận là hội viên và cấp thẻ hành nghề, sinh hoạt trong Hội Đông y của tỉnh. Đời thường, thu nhập chính của gia đình bà vẫn từ ruộng nương. Còn khi có người bệnh, bà lại trở thành thầy lang bốc thuốc chữa bệnh giúp đời. Trên 50 năm làm nghề đến nay, bà đã có nhiều bài thuốc quý cho từng bệnh nhân và căn bệnh cụ thể.
Theo bà Tiến, làm nghề từ đời các cụ đã tâm niệm làm nghề thuốc là giúp người lấy phúc, sống một cuộc đời giản dị: “Cuộc đời ta luôn quan niệm ai biết thì đến, cố gắng chữa trị và không đặt ra vấn đề vật chất, tiền bạc, bởi người bị bệnh đã khổ trăm đường, nên giúp được họ đến đâu ta sẽ cố gắng hết sức”. Bà có tới 6 người con (2 trai, 4 gái) hiện đã trưởng thành, lập gia đình cũng ở địa phương. Bà cũng đã chọn người con trai cả là Ngần Văn Ậm - 45 tuổi, hiện là Bí thư chi bộ xóm Ngõa - để truyền lại nghề thuốc, tiếp tục chữa bệnh giúp người.
Ông Hoàng Công Đảng - nguyên Phó Chủ tịch HĐND huyện Mai Châu - đã từng bị bệnh viện trả về vì ung thư gan, lá lách, trong thời gian tuyệt vọng đã được mọi người giới thiệu đến nhờ bà Tiến với hy vọng mong manh “còn nước, còn tát”. Sau hai tháng miệt mài uống thuốc của bà lang Tiến, ông Đảng thấy người khỏe dần rồi khỏi hẳn, lên bệnh viện khám lại thì không còn triệu chứng của bệnh cũ nữa.
“Phần lớn các bài thuốc của người dân tộc vùng cao ở Hòa Bình còn ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu. Tôi được khỏe mạnh như ngày hôm nay là nhờ vào sự kỳ diệu ấy. Bên cạnh đó, các ông lang, bà lang đã góp phần vào việc gìn giữ và dùng các cây dược liệu quý chữa bệnh cho người dân địa phương mà đa phần là những người nghèo. Rất cần sự đánh giá công tâm và khoa học về các bài thuốc quý dân gian để nhiều người có cơ hội được sống sau khi các bệnh viện đầu ngành đã phải bó tay” - ông Đảng vui vẻ cho biết.
Anh Hà Văn Nhũng - 45 tuổi, bị xơ gan, bụng phình to, bệnh viện đã trả về. Tìm đến bà lang Tiến cắt thuốc, sau 10 ngày bụng anh đã bớt trướng và xẹp dần. Hết 5 thang đầu, anh đã cảm thấy bệnh bị đẩy lui, uống thêm 3 tháng nữa thì người khỏe hẳn, ăn được, ngủ được.
Bài thuốc chữa bệnh nan y nức tiếng của bà mế người Mường
Bà Bùi Thị Nhổ giới thiệu cây thuốc với khách.Ở vùng núi thuộc xóm Tre, xã Thượng Cốc, Lạc Sơn, Hòa Bình có một “thầy thuốc” người dân tộc Mường có thể chữa khỏi những bệnh nan y mà bệnh viện đã phải “bó tay” trả về. Đó là bà Bùi Thị Nhổ - 65 tuổi.
Không chỉ nức tiếng ở vùng đất Hòa Bình, bà còn được rất nhiều người ở khắp các tỉnh, thành tìm đến nhờ cứu giúp. Có nhiều người khỏi bệnh đã nhận bà làm mẹ nuôi để cảm ơn bà.
Trở thành “thầy thuốc” sau khi bị bạo bệnh
Ngôi nhà nhỏ của “thầy thuốc” Bùi Thị Nhổ nằm khuất trên ngọn đồi vắng, ngay cạnh đầu nguồn nước suối Trang, quanh nhà toàn những cây thuốc quý hiếm được bà đem từ rừng về trồng lưu giữ.
Bà Nhổ kể, dù sinh ra trong một gia đình có nghề bốc thuốc nam nổi tiếng ở khắp vùng, nhưng hồi nhỏ cô bé Nhổ cũng như các anh chị em khác trong gia đình không được ông bà truyền nghề cho. Khi ông bà mất, nghề thuốc tưởng đã bị mai một. Thế nhưng có một lần bà bị ốm liệt giường, tưởng không qua khỏi. Một đêm bà nằm mộng thấy bà nội trở về bắt phải học nghề thuốc. Vì theo lời bà nội, “con có căn nguyên phải làm nghề này, nên ta về báo mộng và dạy con cách lấy thuốc và cách chữa trị”.
Trước tiên, bà nội chỉ cho những vị thuốc để bà tự chữa bệnh cho mình trước. Tỉnh lại, bà kể chuyện đó với chồng. Thương vợ, ông chồng leo lên đỉnh những ngọn núi cao lấy các cây theo bà miêu tả về sắc uống như lời bà nội dặn. Kỳ lạ thay, sau một tháng bệnh tình bà thuyên giảm, rồi khỏi hẳn. Từ đó, bà ngày ngày lên rừng lấy cây thuốc để chữa chạy cho những người quanh bản, quanh vùng. Nhà bà lại tấp nập như ngày xưa khi gia đình còn bốc thuốc. “Vì mế có tính kiên trì và tuổi của mế không xung khắc với dòng họ, nên mế là người con được truyền lại những bài thuốc quý của các cụ ngày xưa, đặc biệt nhất là bài thuốc chữa ung thư” - bà Nhổ nói.
Tán bệnh, tiêu u
Trước khi đi hái thuốc, bà Nhổ thường thắp nén nhang cầu khấn trên bàn thờ để xưng tên tuổi, quê quán, tình hình bệnh nhân và xin các cụ đi theo phù hộ “để lấy cho đúng cây thuốc, chữa cho khỏi cái bệnh”. Sau bao năm lặn lội đi khắp vùng Tây Bắc, bà đã sưu tầm, đem về trồng hàng trăm cây dược liệu quý hiếm.
Theo kinh nghiệm của bà Nhổ, nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư chủ yếu là do cơ thể con người. Phương pháp chữa bệnh bằng thuốc nam cũng phải tuân theo nguyên lý triệt tiêu từ mầm bệnh bằng nhiều cách dẫn nhập các chất của cây thuốc. Đầu tiên phải ngăn sự phát triển của các khối u. Dùng cây dọc, cây mía bụt lấy ở Lào Cai xông uống. Hai cây thuốc này có chất kháng sinh, sẽ ngăn không cho mầm bệnh phát triển thêm.
Khi các khối u đã ngừng phát triển, phải dùng thuốc kích thích để tán khối u. Dùng cây thuốc có chất kích thích tác động trực tiếp vào vùng bệnh, tách khối u thành các ngăn nhỏ. Dùng hạt mảng và quả dọc, mỗi lần dùng mỗi thứ một quả đập nát ra, cho vào đun xông mũi. Sau đó, dùng cây nấm lim rửa bằng rượu nồng độ cao, nghiền nhỏ, dùng 1 thìa càphê để hòa với 1 chén nước nóng, uống lúc đang xông. Còn một số u hạch thì đơn giản hơn là cạo lấy vỏ cây dổi rừng, lấy một phần đắp vào vùng u, một phần thì đổ ngập nước, sau đó gạn lấy nước uống đồng thời với lúc xông. Bà Nhổ lý giải cách dùng này tác động gián tiếp theo máu lưu thông đến vùng u và phần đắp tác động trực tiếp đến vùng u. Ngoài ra, còn dùng một số cây như cây hạt mảng, cây xạ u.
Đối với một số loại u như u cổ, u nách, u bụng... có thể chữa bằng phương pháp “thổi” kết hợp với uống thuốc, vì một phần hơi độc không thoát được cũng gây ra bệnh. Ngậm lá trầu hà hơi, sau đó phun nước thuốc vào vùng u đó. Còn nếu bị u ở vùng gần mắt vẫn dùng cách trên, chỉ khác ở chỗ thổi bằng nước gừng. Bài thổi của người Mường là cầu cho suối nước mát chảy qua cơ thể, máu lành lưu thông, máu độc thoát ra ngoài.
Cuối cùng là việc khử u, dùng những cây thuốc có chất tác động đến vùng u để xông, tắm và uống. Các cây dược liệu phải qua giai đoạn sơ chế: Rửa sạch, chặt nhỏ, phơi khô qua ít nhất 7 ngày nắng, gồm: Dây bổ máu 1kg, xạ đơn 1kg, xạ đen 5kg, xạ vàng 7kg, cây sản máu 5kg, cây máu tràng 5kg và một số cây khác như cây mẹ nhà, bưởi rừng, cây nốt ruồi, lá dâm bí, cây cỏ mẫu, cây chân chim, mỗi cây dùng 1kg. Với hàm lượng như vậy có thể chia thành 5 thang thuốc.
Cách sử dụng cũng hết sức đơn giản: Đun sôi thuốc rồi lấy khăn trùm kín đầu và mặt để xông khoảng 1 tiếng, rồi mới uống nước thuốc. Mỗi thang thuốc chia làm nhiều lần đun, mỗi lần đun nhỏ lửa khoảng 5 tiếng đồng hồ, đun cho ấm thuốc cạn đi 50% thì bắc xuống để nguội rồi uống. Mỗi ngày chia làm 4 lần uống, lần 1 buổi sáng thức dậy, lần 2 vào buổi trưa (trước bữa ăn), lần 3 vào buổi chiều tối (trước bữa ăn), lần 4 trước khi đi ngủ. mỗi lần uống 3 chén nhỏ.
Khi bệnh có dấu hiệu thuyên chuyển, người bệnh cảm thấy khỏe hơn, ăn được ngủ được vẫn cần phải uống thêm thang cuối là thang thuốc kiệt, ngăn không cho mầm bệnh tái phát. Thang thuốc kiệt của bà Nhổ gồm những cây xạ đen, xạ vàng, dây bổ máu, chanh đất vừa có tác dụng chữa bệnh lại vừa có tính chất ngăn ngừa bệnh tái phát.
Bà mế có hàng trăm con nuôi
“Thầy thuốc quý nhất ở tấm lòng, nếu mình có thể cứu được họ mà không cứu là có tội đấy!”. Dù chữa cho nhiều người khỏi bệnh nhưng nhà bà Nhổ vẫn rất nghèo, hầu như bà không lấy tiền công chữa bệnh của ai bao giờ, chỉ lấy tiền công đi lấy cây thuốc, lúc năm chục khi một trăm. Đã có nhiều trường hợp bệnh viện trả về, nhưng được bà chữa khỏi nên đã nhận bà làm mẹ nuôi.
Anh Bùi Văn Hảo ở xóm Chẹo, xã Tú Sơn (Kim Bôi, Hòa Bình) bị ung thư gan, Bệnh viện K (Hà Nội) trả về đã được bà Nhổ chữa khỏi. Anh Bùi Văn Long - xóm Khung, xã Thanh Hối (Tân Lạc, Hòa Bình) cũng được bà Nhổ chữa khỏi căn bệnh ung thư dạ dày nên đã nhận bà làm mẹ nuôi, thấy nhà mẹ nuôi nghèo quá nên đã xây cho bà ngôi nhà cấp 4. Mới đây nhất là trường hợp của cháu Nguyễn Hoàng Yến - 6 tuổi (Mỹ Lộc, Nam Định) đã được bà cứu sống do mắc bệnh nan y.
Trong cuốn sổ chữa bệnh của bà Nhổ có hàng trăm địa chỉ của những người đã từng là bệnh nhân được bà chữa khỏi từ Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định đến Lào Cai, Sơn La, Điện Biên rồi cả Thanh Hóa, Nghệ An. “Còn gì vui bằng khi mế đi đến đâu cũng có con, có cháu, cho dù mế chẳng nuôi chúng ngày nào. Mế cứ xuống bến xe là có các con ra đón. Ngày lễ tết các con ở khắp các tỉnh, thành về thăm mế đầy cả nhà. Đó là niềm vui sướng, hạnh phúc nhất của mế khi đã chữa được cho nhiều người khỏi bệnh” – bà Nhổ tâm sự.
Có điều bà Nhổ luôn cảm thấy buồn là cho đến nay bà vẫn chưa chọn được ai trong số các con để truyền lại bài thuốc gia truyền này. Bà chỉ lo một ngày nào đó bà đi với tổ tiên thì những bài thuốc quý “chữa bệnh giúp người” sẽ bị thất truyền.
Ông Bùi Văn Thái - Chủ tịch xã Thượng Cốc - cho biết: “Đối với người dân tộc vùng cao, việc sử dụng các loại cây dược liệu trong rừng để chữa bệnh rất phổ biến. Bà Nhổ ở xóm Tre là một trường hợp như vậy. Việc bà chữa khỏi những trường hợp bị khối u (ung thư) là có thật, nhiều người khỏi bệnh đã nhận bà làm mẹ nuôi. Để kiểm chứng bài thuốc này cần phải có các tổ chức y tế, các nhà y học nghiên cứu và đưa ra kết luận thì mới khẳng định được. Dù sao thì đây cũng là tia hy vọng cho những bệnh nhân mắc phải căn bệnh nan y, khi khoa học đã chịu bó tay”.
Bài thuốc gia truyền 6 đời chữa khỏi bệnh viêm cầu thận
Bà Miến đang bốc thuốc cho bệnh nhânĐầu năm 2013, bà Bùi Thị Miến, 45 tuổi, trú tại xóm Mỏ, xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình được UBND huyện tặng giấy khen vì “đã có thành tích xuất sắc trong công tác khám chữa bệnh năm 2012”. Điều đặc biệt là bà có bài thuốc gia truyền 6 đời, sử dụng các cây dược liệu quý trên rừng chữa khỏi bệnh phù thũng do thận mà y học hiện đại gọi là chứng viêm cầu thận, giúp cho nhiều bệnh nhân trên khắp mọi miền đất nước khỏi bệnh.
Chữa bệnh qua điện thoại
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết bà Miến có tuổi đời còn trẻ so với một vị lang y nhưng bà đã trở thành ân nhân cứu mạng cho hàng trăm bệnh nhân trên khắp mọi miền đất nước với các loại bệnh nặng và khó chữa như: Chữa u giải độc, suy thận, suy tủy, máu huyết tán, lách to và các bệnh đường ruột khác. Thành công nhất là chữa bệnh phù thũng do thận (viêm cầu thận). “Tiếng lành đồn xa”, chúng tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ của bà lang Miến tại xóm Mỏ, xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn để được “mục sở thị” những bài thuốc qúy dân gian và hiệu quả trong việc chữa trị của bà.
Khi đến nhà bà Miến, chúng tôi gặp rất nhiều bệnh nhân đang đến bốc thuốc, chữa bệnh. Chị Bùi Thị Khuyên (ở 17/4 Trần Phú, thị trấn Eakar, huyện Eakar, tỉnh Đắc Lắc) là người được bà lang Miến chữa khỏi bệnh, nay tìm đến trả ơn. Chị Khuyên cho biết: “Tôi bị viêm cầu thận, chạy chữa nhiều nơi và vô cùng tốn kém nhưng bệnh không giảm. Đến lúc cả gia đình đã nản chí thì được người quen giới thiệu về bà Miến ở Kỳ Sơn, Hòa Bình chữa bệnh thận rất tốt. Vì không có điều kiện ra tận nơi nên tôi đã gọi điện cho bà lang Miến. Tuy tôi không đến tận nhà khám, cũng chưa gửi tiền lấy thuốc nhưng bà lang Miến vẫn tận tình nghe tôi kể bệnh, gửi thuốc vào và thường xuyên gọi điện thăm hỏi tình hình bệnh. Đến nay sau 5 tháng liên tục uống thuốc của bà lang Miến, bệnh của tôi đã thuyên giảm rồi khỏi hẳn. Tôi thấy người khỏe khoắn, ăn ngủ được. Vì vậy, tôi và gia đình đã thu xếp ra tận đây để tạ ơn bà lang Miến”.
Tương tự hoàn cảnh của chị Khuyên là trường hợp cháu Trần Thu Hằng, cũng bị bệnh thận. Hai bố con khăn gói từ Khánh Mậu, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đến lấy thuốc cách đây vài tháng. Khi bệnh tình thuyên giảm nay tìm đến cảm ơn bà và tiếp tục lấy thuốc của bà về uống. Anh Hùng - bố cháu Hằng cởi mở trò chuyện với chúng tôi: “Con gái tôi bị viêm cầu thận, toàn thân phù nề, mặt và bụng sưng, tăng cân bất thường nên cháu phải nghỉ học. Gia đình đã đưa cháu đi chạy chữa nhiều nơi nhưng không khỏi. Nghe tiếng bà lang Miến nên gia đình đã đưa cháu đến nhờ bà cứu chữa. Sau một thời gian uống thuốc của bà, đến nay bệnh thận của cháu đã có tiến triển tốt. Tuy nhiên, khi bệnh thận vừa thuyên giảm thì cháu lại tiếp tục bị bệnh lupus ban đỏ. Vì nhà nghèo, đông con, gia đình không có khả năng chữa chạy cho cháu tại các bệnh viện lớn, nên lại tiếp tục đến nhờ cậy bà. Bố con tôi thật may mắn vì bà lang Miến đã nhận lời, kiên trì và tận tình chữa chạy cho cháu. Đến nay, bệnh của cháu đã khỏi, lần này tôi đưa cháu đến để cảm ơn bà và nhờ bà bốc thêm cho cháu thuốc bổ để nhanh phục hồi sức khỏe”.
Bài thuốc gia truyền 6 đời
Bà là người con gái duy nhất của bà lang Kiển nổi tiếng trước đây của đất Mường (tỉnh Hòa Bình). Là hậu duệ đời thứ 6 của dòng họ được truyền lại bài thuốc quý chữa bệnh cứu người. Khi mới 10 tuổi, bà đã được mẹ cho theo lên rừng hái thuốc, biết học con chữ cũng là lúc bà phân biệt rành rọt được từng loại thuốc. Từ những cây thuốc quý của mảnh đất Hòa Bình, bà đã tiếp bước mẹ mình chữa bệnh và trở thành ân nhân của hàng trăm bệnh nhân trong và ngoài tỉnh.
Tại buổi gặp mặt các lang y toàn tỉnh Hòa Bình nhân hội thảo “Sưu tầm dược liệu và các bài thuốc quý trong dân gian tỉnh Hòa Bình” năm 2012, bà đã giới thiệu về các bài thuốc của gia đình. Thuốc của bà lang Miến được bao gói cẩn thận, nhãn mác rõ ràng và có quy trình chế biến chặt chẽ. Các thang thuốc có hướng dẫn kèm theo công dụng để người bệnh dễ dàng nhận biết và sử dụng cho bệnh tình của mình.
Bà cũng mang đến buổi hội thảo những loại cây thuốc đã được bà trồng tại nhà để bảo tồn những loài gene quý, bổ sung về nguồn dược liệu cổ truyền quý hiếm đang dần bị khai thác kiệt quệ. Ghi nhận những đóng góp của bà Miến trong việc sưu tầm dược liệu, tìm tòi nghiên cứu, ứng dụng các bài thuốc dân gian quý, bà lang Miến đã được Sở Y tế Hòa Bình, Hội Đông y tỉnh, Viện Y học cổ truyền đánh giá cao và kiến nghị UBND tỉnh khen thưởng thành tích xuất sắc của bà trong công tác khám chữa bệnh cho mọi người bằng cây thuốc nam. Từ những cây thuốc quý sẵn có của địa phương như xạ đen, trinh nữ hoàng cung, củ bình vôi đỏ và trắng…, kết hợp với phương thức bí truyền của gia đình, bà lang Miến đã không ngừng nỗ lực, tìm tòi để có những bài thuốc nam hiệu quả chữa bệnh cứu người.
Vừa chăm chú kiểm tra lại từng vị thuốc trước khi đóng gói gửi cho bệnh nhân, bà lang Miến vừa tâm sự: “Tôi may mắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình bốc thuốc nam nổi tiếng. Mẹ tôi là bà lang Kiển đã chữa khỏi bệnh cho rất nhiều người. Từ nhỏ tôi đã được chứng kiến cảnh nhiều người bệnh nặng được mẹ tôi khám và chữa khỏi. Tôi thấy rất vui, thấy công việc của người thầy thuốc thật ý nghĩa. Mẹ tôi nay đã cao tuổi, tôi cần phải học bốc thuốc để thay bà chữa bệnh cho mọi người. Thêm một bệnh nhân được mình chữa khỏi, tôi thấy được động viên rất nhiều. Tôi thấy nhiều người bị bệnh nặng là người nghèo, không có tiền đi bệnh viện, rất đáng thương. Trong khi chữa bằng thuốc nam thì chỉ 20 – 30 nghìn một thang thuốc, nếu bệnh nhân khó khăn quá thì tôi cho thuốc, không lấy tiền, miễn sao họ khỏi bệnh là mình thấy hạnh phúc rồi. Làm nghề bốc thuốc nam thì điều quan trọng nhất là phải có sự kiên trì và có cái “Tâm”.
Theo bà Miến, trong quá trình chữa trị bệnh nhân phải kiêng cữ theo hướng dẫn và uống thuốc đều đặn, kiên trì. Việc sắc thuốc uống cũng rất đơn giản, các thang thuốc nên được đun trong ấm đất để thuốc không bị bay hơi, mất chất. Mỗi ngày đun 1 lần khoảng 1 – 1,5 lít nước, để sôi trong khoảng thời gian 10 phút, sau đó dùng uống cho cả ngày. Mỗi thang uống từ 2 – 3 ngày thì thay thang mới. Hiệu quả những bài thuốc của bà Lang Miến đã được chứng minh qua việc có hàng trăm bệnh nhân khỏi bệnh và đầu năm 2013 nay bà đã vinh dự được Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn tặng giấy khen vì “đã có thành tích xuất sắc trong công khám chữa bệnh năm 2012”. Ngoài những bài thuốc chữa các bệnh thông thường, hiện bà Miến vẫn đang tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra những bài thuốc chữa các bệnh nan y hiện nay như tiểu đường, viêm gan B...
Nguyễn Tuấn Anh @ 15:33 09/01/2014
Số lượt xem: 8900
- Cô giáo với nghề tay ngang chữa bệnh gút cứu người (09/01/14)
- 7 quy tắc ăn uống cho người mắc bệnh sỏi thận (09/01/14)
- Dấu hiệu báo bạn bị viêm gan C (09/01/14)
- Trò bịp “ điều trị bách bệnh” của nước diệp lục K Liquid Chlorophyll (08/01/14)
- 10 tác dụng 'thần kì' của bắp cải đối với sức khỏe (08/01/14)
Một số bài toán chọn lọc ở Tiểu học



Tôi uống thuốc sỏi thận nhà ông lang Chu Bắc Giang, chưa được 2 tháng mà sỏi tăng từ 8mm lên tới 10mm. Thuốc ông bán cũng đắt mà không hiệu quả. Vậy mà đọc báo thấy nói :" Với sỏi thận, chưa đầu hàng truờng hợp nào". Chán