HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Thi Toán Violympic, IOE

Violympic OlympicTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

Máy tính bỏ túi

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

Thời tiết 3 miền - Tỉ giá

Hà Nội
Huế
TP HCM

LỊCH HÔM NAY

Liên kết Web GD

Web Bộ Ngành-Báo Chí

Liên kết Web Tổng hợp

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

Tin Báo mới

Thành viên trực tuyến

35 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

A1.jpg Du_lich_2.gif Thit_bo.jpg Caronghuyetlong.jpg Mr_627403_6184a449cdc2167b.jpg XonxaonhungthuongbimuabansieucaytientycuadaigiaViet1462074889img_77231519140572width650height439.jpg 228949.mp3 192561.mp3 Lk_Slow_Thu_Yeu_Thuong_Love_St__Various_Artists_NhacPronet.mp3 Trangngoc1.gif Anh_1_2.JPG NKLTTC.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL_Mai_truong_my.mp3 NKL_La_thu.mp3 NKL_BAI_CA_NGV.mp3 Nhac_nen_du_thi_ke_chuyen_ve_Bac.mp3 Cay_canh.jpg

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Lịch sử - Hồ sơ > Sự kiện - nhân vật >

    Một nét ứng xử rất đẹp: Bác Hồ và Tướng Nguyễn Sơn

    Tướng Nguyễn Sơn (1908 - 1956), sinh ngày 1-10-1908, quê làng Kiên Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội. Ông là người nổi tiếng, được đông đảo người mến mộ, có những nét đặc biệt hơn người: Một vị tướng tài ba văn võ song toàn, đánh giặc giỏi và mê văn chương thơ phú. 

                                   mot net ung xu rat dep
                                                                        
    Tướng Nguyễn Sơn

    Ông từng say sưa nói về Truyện Kiều 5 giờ đồng hồ liền với thầy giáo và học trò lớp chuyên khoa trường Thiếu sinh quân - Thanh Hóa; ông rất chú trọng nâng cao tâm hồn Việt Nam, thu phục được nhân tâm văn nghệ sĩ, đã xây dựng Liên khu IV trở thành một trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam trong kháng chiến; một lưỡng quốc tướng quân hào hoa mà bình dị, một người có cá tính mạnh, ngang tàng, cương trực, coi thường hiểm nguy, vào sinh ra tử, tù ngục trải qua. Ông xứng đáng được phong hàm cấp Tướng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Dịch âm Hán Việt:

    Tặng Sơn đệ
    Đảm dục đại,
    Tâm dục tế.
    Trí dục viên,
    Hạnh dục phương!

    Dịch nghĩa:

    Tặng Nguyễn Sơn
    Gan cần lớn,
    Tâm cần tinh tế.
    Trí vẹn toàn,
    Hạnh phải thẳng ngay!

    Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 111/SL phong hàm cấp Tướng cho một số tướng lĩnh: Võ Nguyên Giáp - Đại tướng, Tổng Chỉ huy quân đội quốc gia; Nguyễn Bình - Trung tướng, Chỉ huy Quân sự miền Nam; Nguyễn Sơn - Thiếu tướng, Chỉ huy Quân sự Liên khu IV.

    Lễ thụ phong cho các tướng lĩnh theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể ở Việt Bắc. Do Nguyễn Sơn đang ở Liên khu IV nên Chính phủ ủy nhiệm cho Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu IV làm Lễ thụ phong, nhưng Nguyễn Sơn chần chừ, kéo dài thời gian chưa chịu nhận.

    Biết được việc này, khi nghe báo cáo, Bác Hồ điềm tĩnh, lặng lẽ lấy một tấm thiệp nhỏ thường dùng viết ngay ngắn trên thiệp: "Tặng Sơn đệ".

    Những câu này, chữ này Bác lấy từ một bài thơ của bậc danh y Khổng Tử Mạc thời Tùy - Đường, Trung Quốc gửi cho bạn là Lưu Chiếu Lâm (có sách nói là của Tôn Tử Mạo). Nguyên văn như sau: "Đảm dục đại nhi tâm dục tiểu,/Trí dục viên nhi hạnh dục phương,/ Niệm niệm hữu như lâm địch nhật,/Tâm tâm thường tự quá kiều thời". (Gan cần lớn mà tâm cần nhỏ, chín chắn/Trí vẹn toàn mà lòng phải thẳng ngay/ Nhớ kỹ giống như đang đánh giặc./ Ghi lòng chẳng khác lúc qua cầu). 

    Bác lấy 12 chữ đầu ở hai câu thơ đầu và bỏ chữ tiểu thay bằng chữ tế là tinh tế, tế nhị; bỏ chữ tiểu là bỏ cái nhỏ, người nhận thiệp sẽ hiểu ngay rằng cái tâm của mình cần tinh tế, chín chắn, khéo léo, tế nhị hơn nữa. Bác Hồ đã trao tấm thiệp cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, lặn lội từ Việt Bắc vào Liên khu IV để trao tấm thiệp và chủ trì lễ thụ phong quân hàm cho Nguyễn Sơn.

    Ứng xử của Bác Hồ với Tướng Nguyễn Sơn là lấy đại cuộc làm trọng, dùng tình để cảm hóa, thể hiện sự bao dung bởi Bác hiểu rõ cá tính, tính cách, tâm can Nguyễn Sơn. Cách ứng xử này được thực hiện một cách tinh tế và rất cụ thể:

    Một là, không lấy tư cách Chủ tịch Nước và người đứng đầu Chính phủ ra mệnh lệnh, phê bình và có thể bắt tội không thi hành phép nước (nếu ở triều vua phong kiến tướng này sẽ không bảo toàn được tính mạng) mà lấy tư cách người anh nói chuyện với người em, gửi cho người em 12 chữ chân tình.

    Đã là anh em thì nhẹ nhàng khuyên nhủ, bảo nhau cũng hướng về cái tốt đẹp, đạo lý ở đời, Nguyễn Sơn là người có cá tính cương nên Bác dùng nhu "lạt mềm dễ buộc". Xưa Lão Tử từng nói: "Cái mà thiên hạ cho là rất mềm lại thường thắng được cái rất cứng của thiên hạ" (Thiên hạ chi chi nhu, trù sinh thiên hạ chi phi kiên).

    Hai là, Nguyễn Sơn vốn là người trọng văn hóa, yêu thích văn chương nên tấm thiệp "Tặng Sơn đệ", Bác lấy chữ từ thơ của một danh nhân để khen Nguyễn Sơn, khẳng định tài - đức của Nguyễn Sơn nhưng cũng ngầm ý nhắc nhủ đã tốt rồi cần tốt hơn nữa, nhất là cần tinh tế, chín chắn hơn, cần phải tự mình sửa mình để hoàn thiện mình.

    Ba là, việc cử đặc phái viên của Chính phủ vào Liên khu IV chủ trì lễ thụ phong là Bác hiểu tường tận căn nguyên. Không để người cùng cấp chủ trì lễ thụ phong, vừa giữ được thể diện vừa ưu ái không làm mất lòng tự trọng của Nguyễn Sơn, "buộc" Nguyễn Sơn không thể không chấp nhận. Phép nước không bị tổn hại. Sắc lệnh được thi hành.

    Bốn là, ở đời xử sự với nhau cần đại lượng khoan hòa. Cách hành xử của Bác với Nguyễn Sơn ngầm ý như thế khi Bác dùng chữ tế thay cho chữ tiểu và tế đi với đại thì đại có nghĩa là đại lượng, bao dung.

    Những cán bộ cấp dưới của tướng Nguyễn Sơn cho biết, khi nhận được thiệp "Tặng Sơn đệ" bỗng ông ngộ ra tất cả, hoàn toàn tâm phục khẩu phục, thốt lên: - Ông cụ này khiếp thật! Và, lập tức chỉ thị ngay cho cán bộ trong Liên khu khẩn trương chuẩn bị lễ thụ phong.

    Ứng xử của Bác Hồ đã đem lại kết quả như ý muốn. Sự ứng xử như thế là từ cái gốc đạo đức của Bác giàu tính nhân văn, tình thương yêu, sự khoan dung, độ lượng. Mười hai chữ trích không chỉ là tặng Nguyễn Sơn ở thời điểm cụ thể, nhất thời mà còn là tặng Nguyễn Sơn trong suốt cả cuộc đời hào hoa, phóng khoáng, huyền thoại của vị tướng này.

    Tướng quân Nguyễn Sơn đã lấy 12 chữ Bác Hồ tặng, hoàn thiện cuộc đời binh nghiệp của mình, đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và Trung Quốc, để trở thành một Lưỡng quốc tướng quân!

    * Vài nét về Tướng Nguyễn Sơn

    Nguyễn Sơn (1908–1956) là một trong những người Việt Nam được phong quân hàm tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đợt đầu tiên vào năm 1948. Ông cũng được Trung Quốc phong quân hàm tướng vào năm 1955 nên còn được gọi là Lưỡng quốc tướng quân (Tướng quân hai nước).

                                                            Thiếu tướng QĐNDVN Nguyễn Sơn.jpg

                                                             Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn

    Ngày sinh và ngày mất

    Đa số các tư liệu đều ghi ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1908 và mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Ngày 21 tháng 10 năm 2006, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm ngày mất của ông. Tại lễ này, ngày sinh của ông được ghi là 1 tháng 10 năm 1908.

    Tuổi trẻ

    Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là con cụ Vũ Trường Xương, một nhà đại tư sản ở Hà Nội. Khi mới lên 5 tuổi ông đã bắt đầu học tiếng Pháp tại một trường Dòng ở Hà Nội. Mười bốn tuổi ông thi đậu vàoTrường Sư phạm Hà Nội. Tính tình nghịch ngợm, cùng với tinh thần chống Pháp được gia đình truyền thụ, ông thường tổ chức học sinh trường Sư Phạm và trường Bảo Hộ sang đánh nhau với học sinh con Tây tại các trường khác.

    Để khống chế sự nghịch ngợm của ông, cha mẹ ông đã cho ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Giệm, hơn ông bốn tuổi. Sau khi được Nguyễn Công Thu (người của Nguyễn Ái Quốc cử về Việt nam) giác ngộ, ông bày trò giả vờ uống rượu say, gây sự với cha vợ để lấy cớ bỏ người vợ trẻ cùng cô con gái mới 6 tháng tuổi là Vũ Thanh Các để ra đi.

    Tham gia cách mạng ở Trung Quốc

    Năm 1925, ông theo Nguyễn Công Thu đến Quảng Châu. Ông được nhập vào gia đình họ Lý của Lý Thụy (Hồ Chí Minh), gồm Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng, Lý Quý (Trần Phú), Lý Trí Phương (Nguyễn Thị Minh Khai) và một số người khác. Ông được Hồ Chí Minh đặt tên cho là Lý Anh Tự và được học lớp chính trị khóa hai cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan. Tại đây, Vũ Nguyên Bác gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đầu năm 1926, ông được cử đi học Trường Sĩ quan Hoàng Phố cùng với Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng. Trong thời gian học, ông gia nhập Quốc Dân Đảng Trung Quốc.

    Tháng 4 năm 1927, Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo làm chính biến, đàn áp Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông bỏ khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 8 năm 1927.

    Tháng 12 năm 1927, ông tham giakhởi nghĩa Quảng Châu, gia nhập Đoàn giáo đạo 4, Phương diện quân số 2 do Diệp Kiếm Anh chỉ huy. Sau ba ngày chiến đấu, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị lộ là đảng viên cộng sản. Để tránh khủng bố trắng, ông phải rời Quảng Châu sang Thái Lan và tổ chức Việt kiều tham gia cách mạng.

    Năm 1928 ông trở lại Trung Quốc, tham gia Hồng quân (红军). Năm 1929, ông giữ chức vụ chính trị viên đại đội trong Trung đoàn 47, chỉ huy đại đội đánh nhiều trận ở Đông Giang. Trong thời gian này ông đổi tên mới là Hồng Thủy (洪水).

    Ông là sĩ quan người nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng làm Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34 thuộc Quân đoàn 12 Hồng quân Trung Quốc. Do có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và trình độ lý luận, ông được điều động đến giảng dạy tại Trường Quân sự Chính trị Trung ương của Hồng quân mới được thành lập ở Thụy Kim. Cuối năm 1932 ông còn tham gia thành lập đoàn kịch đầu tiên của Hồng quân công nông và làm Đoàn trưởng.

    Tháng 1 năm 1934, tại đại hội đại biểu toàn quốc nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa lần thứ hai, Hồng Thủy được bầu là Ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa với tư cách là đại biểu "dân tộc ít người", Ủy viên Chính phủ dân chủ công nông ở Khu Xô viết Trung ương.

    Do đường lối tả khuynh thắng thế trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong thời kỳ 1933-1938 ông đã từng ba lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, rồi lại được phục hồi đảng tịch.

    Tháng 10 năm 1934, ông tham dự cuộc Vạn lý trường chinh. Thời gian này, ông bị Trương Quốc Đào vu cáo là "gián điệp quốc tế", bị khai trừ khỏi Đảng và suýt bị giết hại. Ông may mắn được Chu Đức và Lưu Bá Thừa che chở nên thoát nạn. Hồng Thủy là người Việt Nam duy nhất đã đi hết cuộc Vạn lý Trường chinh của Hồng quân.

    Tháng 12 năm 1935, ông về đến Diên An sau nhiều ngày bị lạc. Tiếp đó ông được vào học khóa một Trường Đại học Hồng quân Trung Quốc tại Ngõa Gia Bào, Thiểm Bắc (sau chuyển về Bảo An, Thiểm Tây), trực tiếp nghe Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai giảng bài.

    Tháng 7 năm 1937, bắt đầu thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông theo Tổng tư lệnh Chu Đức cùng Sư đoàn 115 Bát Lộ Quân vượt sông Hoàng Hà đến Sơn Tây lập căn cứ chống Nhật ở Ngũ Đài Sơn. Ông được bổ nhiệm làm bí thư khu ủy Đông Dã, Trưởng Ban Tuyên truyền Địa ủy Đông bắc Sơn Tây. Tại Ngũ Đài Sơn, năm 1938 ông đã gặp và kết hôn với bà Trần Kiếm Qua, (tên thật là Trần Ngọc Anh, tên Kiếm Qua do chính ông gợi ý đổi cho bà). Ông bà sinh được hai người con trai, không kể một người con gái mất sau khi mới một tuần tuổi.

    Cũng tại Ngũ Đài Sơn, vì phản đối Diêm Tích Sơn, một "lãnh chúa" ở Sơn Tây, ông bị vu oan, lần thứ ba bị khai trừ Đảng, chuyển về trường Quân chính Hồng quân, nhưng đã được khôi phục đảng tịch ngay trong cuối năm đó.

    Năm 1938 ông được giao đảm nhận chức Tổng Biên tập báo Kháng Địch biên khu Tấn Sát Ký.

    Tháng 2 năm 1939 ông được điều về làm Phó Chủ nhiệm Khoa giáo dục chính trị tại Phân hiệu 2 Đại học kháng Nhật ở Hàn Tín Đài, Linh Thọ, Hà Bắc, Trung Quốc.

    Về Việt Nam và được phong tướng

    Tháng 11 năm 1945, ông trở về nước hoạt động theo đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tên mới là Nguyễn Sơn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Ông từng làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Việt Nam (từ tháng 12 năm 1945 đến khi giải thể vào tháng 12 năm 1946), Tư lệnh kiêm Chính ủy hai Liên khu 4 và 5, Hiệu trưởng trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi (1946), Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu (1947), Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4 (1948-1949).

    Năm 1947, ông được tin bà Trần Kiếm Qua và hai con trai của ông chết do bị máy bay Quốc Dân Đảng oanh tạc khi sơ tán khỏi Diên An. Ông cưới bà Huỳnh Thị Đổi. Hai người sinh được cô con gái Nguyễn Mai Lâm, do nhiều nguyên nhân hai người đã chia tay.

    Cũng trong năm này, ông kết hôn với bà Lê Hằng Huân. Ông có 4 người con với bà: Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hồng và Nguyễn Việt Hằng. Trong đó bà Nguyễn Thanh Hà học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự ra trường công tác tại Bộ Tư lệnh Thông tin và về hưu với quân hàm trung tá. Bà Nguyễn Việt Hồng thì mắc bệnh tâm thần được điều trị dài hạn tại bệnh viện.

    Năm 1948, ông được Nhà nước Việt Nam phong quân hàm thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên. Cùng được phong thiếu tướng trong đợt này có 8 quân nhân khác. Khi biết mình chỉ được phong thiếu tướng, ông không hài lòng và không muốn nhận (khi có người chúc mừng, ông nói: chúc mừng cái gì, tao thừa tướng nhưng thiếu sao!). Ông gửi công văn hỏa tốc cho Hồ Chí Minh để từ chối nhận quân hàm.

    Nhận được công văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lên tấm các của mình: "Tặng Sơn đệ" với 12 chữ Hán: "Đảm dục đại, tâm dục tế, trí dục viên, hạnh dục phương"(đại ý: cái gan cần phải lớn; cái tâm nên tế nhị, chín chắn; cái trí phải suy nghĩ trước sau, toàn diện; cái đức hạnh phải đầy đủ, ngay thẳng) khiến ông chấp nhận. Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch thay mặt Chính phủ vào tận Thanh Hóa làm lễ tấn phong ông.

    Trở lại Trung Quốc và được phong tướng

    Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc công tác, làm Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân Giải phóng Nhân dân. Được xem là một trong 72 đại công thần Trung Quốc, ngay trong đợt phong quân hàm đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1955, ông được nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được chính phủ Trung Quốc tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.

    Ông được mệnh danh là "Lưỡng quốc tướng quân", là một trong hai người Việt Nam được phong quân hàm tướng của hai quốc gia (người còn lại là Nguyễn Văn Hinh - Trung Tướng Quốc Gia Việt Nam, đồng thời là Trung tướng Không Quân Pháp), và đều ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên.

    Về với quê hương

    Năm 1956, do khối u ác tính nằm bên phổi trái, ông xin trở về quê hương. Ông rời Bắc Kinh ngày 27 tháng 9, được Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Trung Quốc ra ga tiễn và về đến Hà Nội ngày 30 tháng 9. Ông mất tại Hà Nội sau đó không lâu. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

    Viết về ông có hồi ký Hoàng Hà luyến, Hồng Hà tình của bà Trần Kiếm Qua. Cuốn này đã được dịch ra tiếng Việt, nhan đề Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương.

    (ST/TH)


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Tuấn Anh @ 23:03 02/11/2018
    Số lượt xem: 927
    Số lượt thích: 3 người (Nguyễn Tuấn Anh, lê hoàng, Hoàng Mai)
    Avatar

     
    Gửi ý kiến

    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA !