HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Thi Toán Violympic, IOE

Violympic OlympicTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

Máy tính bỏ túi

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

Thời tiết 3 miền - Tỉ giá

Hà Nội
Huế
TP HCM

LỊCH HÔM NAY

Liên kết Web GD

Web Bộ Ngành-Báo Chí

Liên kết Web Tổng hợp

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

Tin Báo mới

Thành viên trực tuyến

11 khách và 1 thành viên
  • phạm lan
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Caronghuyetlong.jpg Thit_bo.jpg A1.jpg Mr_627403_6184a449cdc2167b.jpg Du_lich_2.gif XonxaonhungthuongbimuabansieucaytientycuadaigiaViet1462074889img_77231519140572width650height439.jpg 228949.mp3 192561.mp3 Lk_Slow_Thu_Yeu_Thuong_Love_St__Various_Artists_NhacPronet.mp3 Trangngoc1.gif Anh_1_2.JPG NKLTTC.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL_Mai_truong_my.mp3 NKL_La_thu.mp3 NKL_BAI_CA_NGV.mp3 Nhac_nen_du_thi_ke_chuyen_ve_Bac.mp3 Cay_canh.jpg

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Lịch sử - Hồ sơ > Sự kiện - nhân vật >

    'Khúc khải hoàn' của không quân-hải quân Mỹ...trên bầu trời Việt Nam

    Xin giới thiệu bài viết (nghiên cứu) của chuyên gia quân sự Nga quen thuộc Oleg Kaptsov về vai trò của các tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

    Bài đăng trên “Bình luận quân sự” (Nga) ngày 18/5/2018. Các ảnh trong bài, những câu trả lời in nghiêng đều là của tác giả. Chúng tôi chỉ thêm một bản đồ để bạn đọc tiện hình dung. Sau đây là bài của O.Kaptsov.

    Các câu hỏi về sử dụng không quân hải quân Mỹ tại Việt Nam (có các câu trả lời kèm theo).

    Số lượng các tàu sân bay Mỹ tham gia vào các hoạt động tác chiến tại Việt Nam? (câu trả lời- 17 tàu sân bay).

    'Khuc khai hoan' cua khong quan-hai quan My...tren bau troi Viet Nam

     Số lượng các lần “hành quân tác chiến” của các cụm tàu sân bay tấn công (Mỹ) đến bờ biển Việt Nam? 
    (Câu trả lời- 66 lần).

    Tổng số ngày đêm mà các tàu sân bay có mặt ở trận địa “Yankee”? (Câu trả lời- 9.178 ngày đêm).

    Trận địa “Yankee” nghĩa là gì? (Câu trả lời- là khu vực cơ động tác chiến của các cụm tàu sân bay tấn công Mỹ gần bờ biển Việt Nam, còn nổi tiếng với một tên gọi khác nữa “Câu lạc bộ du thuyền Vinh Bắc Bộ”).

    'Khuc khai hoan' cua khong quan-hai quan My...tren bau troi Viet Nam

    Tàu sân bay nào có đóng góp nhiều nhất vào chiến thắng trước đối phương? (Câu trả lời- công lao lớn nhất thuộc về tàu sân bay nguyên tử “Interprise”,- nó đã thực hiện 6 chuyến” hành quân tác chiến”. Trong thời gian đó, không đoàn máy bay của tàu này đã thực hiện 39.000 chuyến xuất kích và ném xuống đầu người Việt Nam 30.000 tấn bom đạn). 

    Ý nghĩa của không quân hải quân tại Việt Nam? (Câu trả lời- là thành tố chủ chốt của Hải quân (hạm đội), có khả năng tự giải quyết nhiều nhiệm vụ, trong đó có cả các nhiệm vụ tầm chiến lược).

    Chữ viết tắt TF-77 nghĩa là gì?

    Là Binh đoàn tác chiến số 77 (Task Force 77)- tên cũ của binh đoàn tàu sân bay tấn công trong thành phần Hạm đội bảy của Mỹ (khu vực chịu trách nhiệm- toàn bộ phần phía Tây Thái Bình Dương và phần phía Đông Ấn Độ Dương).

    Khác với truyền thống Nga (Liên Xô) là mỗi tàu chiến đều đươc biên chế (nằm trong thành phần) của một hạm đội hoặc phân hạm đội cụ thể nào đó, Hạm đội bảy của Mỹ chỉ tồn tại trên giấy: bất kỳ một tàu (chiến Mỹ) nào, nếu vượt qua đường kinh tuyến 180 Tây, đã được tự động nằm trong thành phần của Hạm đội bảy.

    Nếu như đó là một cụm tàu sân bay tấn công, thì chỉ huy cụm tàu sân bay tấn công đó mặc nhiên được bổ nhiệm làm Tư lệnh Hạm đội bảy. 

    Để mãi tưởng nhớ những chiến công của không quân hải quân, thì ngay sau chiến tranh (Việt Nam) người Mỹ đã vội vàng đổi tên bình đoàn tác chiến 77 thành “binh đoàn cận vệ số 70”.  Để làm gì? Để không một ai còn liên hệ (qua cái tên của  binh đoàn) với những vị anh hùng đã từng ném bom xuống Hà Nội.

    Những điểm khái quát như vậy là đã có. Vậy còn các chi tiết?

    Tôi tự cho phép mình trích dẫn các sự kiên và các trích đoạn từ chương “Sự tham gia của Hải quân Mỹ vào cuộc Chiến tranh Việt Nam” (tác giả V.Dotsenko), trong đó có những mô tả chi tiết về tổ chức và hoạt động tác chiến của “Binh đoàn tác chiến 77” (Mỹ).

    'Khuc khai hoan' cua khong quan-hai quan My...tren bau troi Viet Nam
                                                     Các tàu của Binh đoàn 77, năm 1965.

    Để giải quyết nhiệm vụ tiêu diệt các mục tiêu quân sự và công nghiệp trên mặt đất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), người Mỹ đã sử dụng một lực lượng hải quân tương đối lớn.

    Trong thành phần của Binh đoàn 77 thường xuyên có từ 1 đến 5 tàu sân bay cùng một lực lượng tàu hộ tống (bảo vệ) hùng hậu- thường (Mỹ) huy động đến 5 tàu tuần dương mang tên lửa, đến 15 tàu khu trục và khinh hạm.

    Mặc dù gần như không có mối đe dọa nào trên biển, Bộ Tư lệnh Mỹ vẫn thực hiện mọi biệp pháp để tổ chức đủ các hình thức phòng thủ cho cụm tàu sân bay. Đội hình bảo vệ tuyến trong gồm các tàu tuần dương, tàu khu trục và khinh hạm bảo vệ.

    Trên trời có các máy bay AWACS túc trực ngày đêm, các máy bay tiêm kích trực chiến hoặc ở trên không, hoặc luôn sẵn sàng cất cánh ngay trên máy phóng (trên tàu).

    Nhiệm vụ chống ngầm được giao cho một nhóm chuyên sục sạo- tấn công chống ngầm, trong đó có các máy bay của không quân tuần tiễu “Orion” và “Neptun” liên tục quần thảo trên khu vực gần và khu vực xa các tàu sân bay.

    Thời gian có mặt trung bình của các tàu sân bay trong thành phần Hạm đội bảy là 175-250 ngày đêm, trong đó có 5- 6 chuyến hành quân đến khu vực tác chiến với thời gian kéo dài tối đa đến 50 ngày đêm.

    Thời gian các tàu sân bay có mặt tại khu vực cơ động tác chiến là 108 đến 136 ngày đêm. Để di chuyển, trung bình mất 45 ngày đêm, thời gian có mặt tại căn cứ- đến 60 ngày đêm.

    Để sửa chữa nhỏ và chuẩn bị chiến đấu mất trung bình từ 170 đến 210 ngày đêm. Thời gian di chuyển từ bờ Tây nước Mỹ sang khu vực tác chiến của Hạm đội bảy mất 14 ngày  đêm, còn từ Bờ đông – gấp hai lần (28 ngày đêm). 

    Khi có mặt tại khu vực cơ động tác chiến, mỗi tàu sân bay tham gia liên tục vào các hoạt động tác chiến trong khoảng thời gian 1đến 2 tuần, sau đó dành một ngày đêm cho binh sỹ nghỉ ngơi và sửa chữa máy bay. Khi 3 tàu sân bay cùng có mặt tại khu vực (cơ động tác chiến), thường thì một tàu được sử dụng làm lực lượng dự bị, còn 2 tàu còn lại hoạt động trung bình 12 giờ/ một ngày đêm.

    Khu vực cơ động tác chiến “Yankee” của lực lượng Binh đoàn 77 từ tháng 2/1965 đến tháng 1/1973 nằm trên Vịnh Bắc Bộ. Diện tích vịnh này là 140x160 hải lý, cự ly từ đường ranh giới đến đường ven bờ là 40-80 hải lý( xa nhất 100-120 hải lý).

    Mỗi một cụm tàu sân bay tấn công có một “tiểu khu vực” chịu trách nhiệm riêng. Trong phạm vi của tiều khu vực đó,  sẽ quy định các điểm cung cấp lượng dữ trữ (nước, lương thực , đạn dược v.v) và tại những  điểm đó luôn có một trong các cụm tàu bảo đảm, hay còn được gọi là “hậu phương bơi”.

    Trong khi đó, Không quân Mỹ hoạt động ở cự ly 200-250 km cách trung tâm khu vực cơ động tác chiến (của các tàu sân bay) .

    Thành phần không quân của Binh đoàn 77 được đánh giá khác nhau, cụ thể như sau: khi 2 tàu sân bay có mặt tại “trận địa”, thì số lượng máy bay tham gia tác chiến vào khoảng 152-166 chiếc (trong số đó có 86-96 máy bay cường kích, 48 máy bay tiêm kích); nếu có 3 (tàu sân bay) – thì có 240 -250 máy bay tham chiến (trong số đó có 130- 150 máy bay cường kích, 72-84 máy bay tiêm kích); nếu có 4 (tàu sân bay) – 312-324 máy bay (trong số đó có 166-184 máy bay cường kích, 96 máy bay tiêm kích).

    Một nhân tố rất quan trọng nữa tác động trực tiếp làm thay đổi “quân số” máy bay của không đoàn tàu sân bay- đó là hệ thống phòng không Việt Nam.

    Tổng cộng trong thời gian chiến tranh các tàu sân bay của binh đoàn 77 mất 860 máy bay (tuyệt đại da số là tổn thất tác chiến – tức bị phòng không Việt Nam bắn hạ).

    Không quân hải quân (Mỹ) được sử dụng với cường độ rất cao.Trong năm 1966, từ một tàu sân bay, các máy bay thực hiện trung bình 111 chuyến xuất kích tác chiến/ ngày đêm, từ 2 tàu sân bay – 178 chuyến xuất kích. Trong năm 1969, những con số này lần lượt là 178 và 331, còn trong năm 1972- là 132 và 233.

    Khi đó, tần suất tham gia tác chiến là : đối với máy bay cường kích – 1,2 -1,3 lần xuất kích / một máy bay/ ngày  đêm; đối với máy bay tiêm kích- 0,5-0,9, đối với máy bay tác chiến điện tử - 1,43-1,7; đối với máy bay AWACS- 1,25-1,5; đối với máy bay trinh sát – 0,58- 0,83.

    Tôi xin được nhận xét một chút là trong các số liệu được dẫn ở trên có đôi chỗ không thực sự lô gich. Nếu có 2 tàu sân bay cùng có mặt tại trận địa (86-96 máy bay cường kích, 48 máy bay tiêm kích) và cường độ sử dụng trong tác chiến (1,2-1,3 lần xuất kích tác chiến/ngày đêm đối với máy bay cường kích, 0,5- 0,9 đối với máy bay tiêm kích) thì không thể nào có được con số 200-300 chuyến xuất kích tác chiến (ngày đêm).

    Có thể không nên tính hoạt động của các máy bay tác chiến điện tử, AWACS và máy bay trinh sát vì số lượng của chúng không lớn.

    Nhìn chung, con số lần xuất kích tác chiến trung bình đã dẫn ở trên (178 từ một tàu sân bay trong một ngày đêm và hơn 300 từ 2 tàu sân bay) có lẽ không được chính xác lắm.

    Sự xuất hiện của các phương tiện kỹ thuật hàng không mới cũng giữ một vai trò quan trọng. Đến thời điểm bắt đầu chiến tranh (1965) Hải quân Mỹ tiếp nhận đưa vảo trang bị  2 kiểu máy bay mới làm tăng đáng kể khả năng sử dụng không quân hạm trong tác chiến.

    Đó là máy bay phát hiện radar tầm xa E-2 (Northrop Grumman E-2 Hawkeye)-để thay thế máy bay AWACS  E-1”Tracker” và máy bay cường kích (hoạt động trong) mọi thời tiết A-6 “Grumman A-6 Intruder” – một kiểu máy bay tuy có các tính năng bay tương đối “uể oải” nhưng bù lại có một ưu thế không thể tranh cãi: nó có khả năng hoạt động ban đêm. 

    Máy bay cường kích này được trang bị hệ thống ngắm bắn-dẫn đường DIANE với 2 radar . Radar sục sạo đảm bảo cho máy bay tấn công các mục tiêu trên mặt đất trong mọi điều kiện thời tiết. Radar thứ hai (dẫn đường) sử dụng để tự động bám các mục tiêu điểm và chụp bản đồ địa hình.

    Còn một thiết kế hàng không mới nữa trong cuộc chiến tranh Việt Nam- đó là máy bay cường kích hải quân hạng nhẹ A-7 “Corsair II”. Máy bay cường kích mới này có bán kính hoạt động và trọng lượng tác chiến gấp đôi chiếc cường kích A-4 “ Skyhawk” đã lạc hậu.

    Đội hình chiến đấu của Không quân hải quân Mỹ khi tiến hành các đòn tấn công vào các mục tiêu trên mặt đất.

    Các tàu chiến mạnh, các máy bay hiện đại nhất, các biện pháp tổ chức phòng thủ và tấn công trong bất cứ điều kiện nào được tính toán hết sức cẩn thận. Các chiến thuật hết sức tinh vi khi tấn công các mục tiêu mặt đất. Vũ khí chính xác cao lớp “không đối đất”.

    Như vậy, kế hoạch tấn công Việt Nam của người Mỹ có 100 ưu điểm (ưu thế), và nó (kế hoạch) chỉ có một nhược điểm duy nhất. Nó thất bại hoàn toàn (nguyên văn- bị quỷ tha ma bắt-ND).   

    Như chúng ta đã biết, không quân hải quân- đấy là một công cụ đa năng của hạm đội (hải quân), có thể giải quyết cả các nhiệm vụ cấp chiến lược. Trước khi chấp nhận khẳng định này và coi nó là một chân lý,chúng ta hãy tìm hiểu quy mô lãnh thổ của Việt Nam. (Câu trả lời- diện tích Việt Nam bằng 2% diện tích Liên Bang Nga).

    Người Mỹ kỷ niệm ngày Chiến thắng trước Việt Nam vào ngày nào? (Câu trả lời- không có ngày nào cả: họ đã thua cuộc chiến tranh này).

    Vậy thì những tuyên bố về “tính chất chiến lược” của các cụm tàu sân bay có liên quan như thế nào với thất bại nhục nhã trong một chiến tranh cục bộ? (Câu trả lời- chả có liên quan gì. Hai chục cụm tàu sân bay tấn công đã không thể làm gì một đất nước có diện tích chỉ bằng tỉnh Omsk). Xin chú thích:Tỉnh Omsk của Nga có diện tích 314.391km2, còn diện tích Việt Nam- 331.210 km2- ND)

                                 Tỉnh Omsk của LB Nga (ảnh những người dịch tải trên mạng). 

    Khúc khải hoàn ca chiến thắng và nỗi nhục thất bại…

    Nó là như vậy đấy, nhưng chúng ta hãy tiếp tục làm quen với những sự kiện ít được biết tới về Chiến tranh Việt Nam.

    Ai đã thực hiện những đòn tấn công chủ yếu vào Việt Nam và từ đâu? (Câu trả lời- lực lượng chủ yếu của không quân chiến thuật Mỹ bố trí tại các căn cứ không quân Corat, Thule, Udon Thani và Ubon trên lãnh thổ nước láng giềng Thái Lan).

    Những căn cứ không quân nào được sử dụng ngay trên lãnh thổ Việt Nam? (Câu trả lời-  những căn cứ nổi tiếng nhất là sân bay quốc tế Sài Gòn (Tân Sơn Nhất) và sân bay quân sự Cam Ranh, sau này được giao cho Liên Xô cùng sử dụng và đã biến thành một tiền đồn Xô Viết tại Đông Nam Á).  

    Các máy bay ném bom chiến lược B-52 cất cánh từ đâu (để ném bom Việt Nam) ? (Câu trả lời- một phần các máy bay chiến lược (B-52) được bố trí tại căn cứ không quân U-Tapao trên lãnh thổ Thái Lan, một phần khác hoạt động từ căn cứ không quân trên đảo Guam).

    Kiểu máy bay tấn công chủ yếu thực hiện 75% các nhiệm vụ tấn công trong giai đoạn đầu cuộc Chiến tranh Việt Nam? (Câu trả lời – F-105“Thunderchief”).

    Các trang thiết bị vô tuyến điện tử của máy bay tiêm kích- ném bom “Thunderchief”(đầu những năm 60).

    Nhờ có những tính năng kỹ thuật - bay tuyệt vời và những khả năng đặc biệt của tổ hợp điện tử trên máy bay (NASARR)- một tổ hợp có thể dẫn máy bay đến mục tiêu trong bất kỳ điều kiện nào và cho phép máy bay bay ở độ cao cực thấp, tự động phân biệt những đặc điểm địa hình, xác định cự ly đến điểm được chọn trước và phát tín hiệu về chướng ngại vật trên hướng bay nên “Thunderchief” được sử dụng để công kích các mục tiêu quan trọng nhất và được bảo vệ tốt nhất.

    Trong số đó- kho dầu quan trọng ở ngoại ô Hà Nội, Nhà máy gang thép Thái Nguyên, Cầu đường sắt qua Sông Hồng trên biên giới với Trung Quốc, Sân bay Cát Bi- nơi lắp ráp các máy bay lên thẳng được Liên Xô cung cấp, căn cứ chủ yếu của MiG- căn cứ không quân Phúc Yên.

    Về cường độ sử dụng và vai trò của Không quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, con số tổn thất nói lên rất nhiều điều: có tới 2.197 máy bay (Mỹ) không trở về căn cứ.

    Không quân (Mỹ) là lực lượng chịu gánh nặng chủ yếu trong các trận không chiến (với Không quân Việt Nam) và đã thực hiện 2/3 tống số các lần xuất kích tác chiến trong cuộc chiến tranh này.

    Nếu tính ra giá trị tuyệt đối- đó là gần một triệu lần xuất kích tác chiến, gấp 2 lần so với những gì (số lần xuất kích tác chiến) mà các không đoàn của tất cả các cụm tàu sân bay tấn công Mỹ đã thực hiện trong 66 lần “hành quân” đến bờ  biển Việt Nam.   

    Những tín đồ cuồng của không quân hạm (không quân hải quân) đã nhận xét rất đúng là cơ cấu này đã có những đóng góp nổi bật trong cuộc chiến tranh (Việt Nam). Nhưng bên cạnh đó họ lại không cảm thấy đáng cười về việc:

    a, Đã dùng 17 tàu sân bay “thổi lửa” chiến tranh với một đất nước ven biển nhỏ bé;

    b, Hóa ra là, thậm chí trong một cuộc chiến tranh với một đất nước ven biển nhỏ bé cũng buộc phải dựa hoàn toàn vào lực lượng không quân truyền thống (cổ điển).  

    Đó là kết cục tất yếu của “thiên sử thi” của không quân hải quân và những nỗ lực của hải quân thể hiện mình trên bầu trời phía trên đất liền.

    Trong bài báo này có sử dụng các số liệu từ cuốn sách của V.D. Dotsenko “Các hạm đội và những cuộc xung đột khu vực nửa sau thế kỷ XX”.

    (Tác giả: Oleg Kaptsov/Đất Việt)


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Nam @ 07:45 20/05/2018
    Số lượt xem: 7
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA !