HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Thi Toán Violympic, IOE

Violympic OlympicTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

Máy tính bỏ túi

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

Thời tiết 3 miền - Tỉ giá

Hà Nội
Huế
TP HCM

LỊCH HÔM NAY

Liên kết Website

Web Bộ Ngành-Báo Chí

Web Tổng hợp

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

Tin Báo mới

Thành viên trực tuyến

6 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Thit_bo.jpg A1.jpg Du_lich_2.gif Caronghuyetlong.jpg Mr_627403_6184a449cdc2167b.jpg XonxaonhungthuongbimuabansieucaytientycuadaigiaViet1462074889img_77231519140572width650height439.jpg 228949.mp3 192561.mp3 Lk_Slow_Thu_Yeu_Thuong_Love_St__Various_Artists_NhacPronet.mp3 Trangngoc1.gif Anh_1_2.JPG NKLTTC.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL_Mai_truong_my.mp3 NKL_La_thu.mp3 NKL_BAI_CA_NGV.mp3 Nhac_nen_du_thi_ke_chuyen_ve_Bac.mp3 Cay_canh.jpg

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Sự kiện chính trị, xã hội trong nước! >

    Cắm cờ trên “lá chắn” biển Đông

     
    Đại tá Phạm Duy Tam đã hàng chục lần trở lại Trường Sa.
                                     
     "nếu để chậm trễ, mất thời cơ, phía khác sẽ lợi dụng chiếm đóng mất đảo thì chúng tôi có tội với tổ tiên, ông cha, với muôn đời con cháu, các thế hệ người Việt mai sau".

    Với tâm niệm ấy, chúng tôi thần tốc ra khơi..." - đại tá Phạm Duy Tam - cựu sĩ quan hải quân VN, nguyên là Thuyền trưởng 675, Đoàn tàu không số, đường Hồ Chí Minh trên biển kể lại. Bây giờ ông đã ở tuổi cổ lai hy - ba mươi lăm năm nhắc lại vẫn còn rưng rưng nhớ cảm xúc kéo cờ quân giải phóng trên đảo Trường Sa ngày đó. Tôi biết, tháng tư với niềm hân hoan ấy sẽ đi theo ông đến cuối đời...

    Giải phóng Trường Sa

    Đã bao nhiêu lần vào sinh ra tử, chỉ huy những đoàn tàu không số chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam mong manh trên biển, và ít nhất 7 lần người lính hải quân Phạm Duy Tam đeo khăn tang, cùng đồng đội tự truy điệu sống mình trước khi ra khơi, nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất đời ông vẫn là những ngày cuối tháng tư lịch sử 1975, khi cắm cờ quân giải phóng trên 6 đảo lớn ở Trường Sa.

    Ông Tam kể lại, Đà Nẵng vừa được giải phóng 29.3 thì được Quân uỷ Trung ương chọn làm căn cứ, lập sở chỉ huy để mở hướng tiến công, giải phóng Trường Sa. Đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp - nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo trong các bức điện cho Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân - đại tá Hoàng Hữu Thái chỉ huy chiến dịch.

    Từ ngày 9.4.1975, biên đội tàu không số của ông Tam gồm 3 chiếc tàu giả dạng, đã rời cảng Hải Phòng để thần tốc vào đến cảng Tiên Sa, Đà Nẵng lúc 21 giờ ngày 10.4. Và chỉ trong 1 ngày tiếp nhận lương thực, phương tiện, vũ khí rồi thẳng tiến ra đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa).

    Dù phương tiện của hải quân lúc ấy còn thô sơ, quá thiếu những thiết bị hỗ trợ định vị đi biển, nhưng với kinh nghiệm hàng chục năm biển giã, và 7 năm ngược xuôi vận chuyển vũ khí vào Nam, các chiến binh tinh nhuệ của Đoàn tàu không số đã liên tục hành quân gần 500 hải lý (gần 1.000km) chỉ trong 3 ngày đêm đã ra đến Trường Sa.

    Trong đêm tối, giữa biển khơi mịt mùng, nhưng đoàn quân giải phóng đã xác định được chính xác các đảo do quân đội Sài Gòn đóng - đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn nhưng tối quan trọng, bởi đã được quán triệt không được đánh nhầm các đảo do Philippines và Đài Loan chiếm đóng.

    Chỉ trong 15 phút nổ súng, đến 4 giờ 45 ngày 14.4 đã giải phóng hoàn toàn đảo Song Tử Tây. Với chiến công đầu tiên này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến công, giải phóng 5 đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, đảo Trường Sa Lớn và An Bang cho đến ngày 29.4.1975.

    Tôi thật sự khâm phục vị đại tá già Phạm Duy Tam, bởi sau 35 năm giải phóng, với bao nhiêu là sự kiện chồng chất đời lính biển, nhưng ông lại nhớ vanh vách, chi tiết tên từng đồng chí, đồng đội, người chỉ huy, số lính ngụy trên từng đảo... thậm chí đến quê quán, hoàn cảnh của 30 tù binh do ông chở về giao cho ban quân quản tại Đà Nẵng.
     
    Chiến công giải phóng Trường Sa là to lớn và hết sức ý nghĩa, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và giang sơn quy về một mối, ông Tam và đồng đội rất tự hào về điều ấy. Chiến công này của Hải quân Việt Nam lúc bấy giờ là điều bất ngờ với nhiều nước trong khu vực và thế giới.

    Nhưng ông Tam lại khiêm tốn: “Chúng ta đã thắng là nhờ vào sự nhạy cảm về chính trị, khôn khéo trong chỉ huy và biết chọn đúng thời cơ. Còn với người lính chúng tôi chỉ nhờ vào kinh nghiệm, sự dũng cảm và lòng quyết tâm đi giải phóng miền Nam mà làm được. Trong khi đó, lính của quân đội Sài Gòn chỉ là quân ô hợp, toàn là là thành phần “bất hảo”, từng trốn lính, bị kỷ luật, tước quân tịch... ra đảo như bị đi đày. Thời điểm đấy họ cũng bấn loạn, thiếu thông tin, thấy hải quân trong trang phục quân giải phóng miền Nam nên gần như là không còn sức chiến đấu”.

    Mỗi lần lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN được kéo lên trên từng đảo, chúng tôi ai cũng rưng rưng nước mắt mừng vui. Niềm vui dồn nén sau bao nhiêu năm gian khổ, hy sinh, bao mong chờ giờ mới được vỡ ào. Ông Tam kể lại, chỉ 2 ngày sau, các biên đội tàu của một nước khác đã tiến vào các đảo Trường Sa, nhưng lúc ấy thấy cờ giải phóng của chúng ta đã phấp phới trên trời cao nên họ gửi công điện chúc mừng.

    Sau ba mươi lăm năm thanh bình, nhưng mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc vẫn còn nhiều khó khăn vì xa đất mẹ. Bởi vậy, với ông Tam vẫn là niềm trăn trở: “Làm sao để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, phát triển hơn nữa ở các quần đảo ngoài biển Đông. Dải đất ấy không chỉ cho nguồn tài nguyên lớn mà còn là “tấm lá chắn” của tổ quốc ở phía biển Đông”.

    Sóng gió nghiệp biển

    Nhớ về những vinh quang của ngày chiến thắng, mừng vui bao nhiêu, thì ông đại tá già Phạm Duy Tam càng da diết nhớ về quê hương, gia đình bấy nhiêu. Ông kể về tuổi thơ đầy nước mắt của mình gắn liền với với những mốc lịch sử  trầm luân của dân tộc. Ông Tam sinh ra ở miền biển Lý Hoà (xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) trong một gia đình ngư dân đông con và nghèo.

    Năm 1945, khi ông chỉ mới 6 tháng tuổi thì mẹ đã chết đói cùng hàng vạn người dân miền Bắc lúc ấy. Một mình người cha phải trần lưng bám biển nuôi con. Bởi vậy, chỉ mới 2 tuổi, ông đã lên thuyền theo cha ra khơi đánh cá, bắt đầu nghiệp biển của mình. Bỏ học dở ở lớp 6, ông Tam nhập ngũ, vào hải quân. Năm 1964, ông Tam trở thành pháo thủ số 1 trên tàu hải quân, tham gia bắn máy bay Mỹ tại cửa sông Gianh.

    Với những thành tích vượt trội, năm 1965 ông được điều động đi đào tạo ở Học viện Hải quân tại Hải Phòng. Ông kể: “Ngày 7.2.1965, tàu đưa tôi từ cửa sông Gianh vào Nhật Lệ (Đồng Hới) để lên bờ đi Hải Phòng, vừa đặt chân lên đất liền thì thấy máy bay đánh phá thị xã này. Tôi đã vứt ba lô, bơi ngược lại tàu để phát huy pháo xạ 20 ly mà lúc đấy tôi là pháo thủ duy nhất trên tàu có thể sử dụng nó. Chuyến đi trễ lại vài ngày, nhưng đấy là cơ duyên cho tôi về thăm  được cha mình lần cuối”.

    Ông Tam nghẹn ngào, bởi năm 1967, cha ông đã bị máy bay Mỹ bắn tan tàu, mất xác trên biển khi đang đánh cá. Một cái chết thương tâm, khi không có bất cứ người thân nào ở gần.

    Ông Tam tâm sự, từ năm 1969, khi làm thuyền phó đội tàu 42, Đoàn tàu không số đường HCM trên biển, thực hiện những chuyến vận tải vũ khí, đi “cảm tử”  vào Nam, chúng tôi xem như mình đã hy sinh. Mỗi tàu chở 50-60 tấn vũ khí để vào tận Ấp Bắc, Bình Giã, Vạn Tường... tiếp viện cho quân giải phóng miền Nam. Hành trình trên biển dễ “lộ sáng” nên đoàn tàu chúng tôi đều giả dạng tàu đánh cá, tàu không số, người không tên (thật), luôn chọn lúc sóng to gió lớn cấp 6-7 để lên đường.
     
    Ngoài vũ khí chuyên chở ra, trên tàu còn cài đặt quanh 1,8-2 tấn thuốc nổ với 4 hệ thống kích nổ để có thể tự huỷ khi bị địch phát hiện. Nhưng những phong ba và gian nguy ấy đã lần lượt qua đi, hàng chục thuyền viên, đồng đội mà do ông Tam làm chỉ huy trên 3 tàu không số đã cởi khăn tang, trở về với gia đình sau ngày giải phóng.
     
    Riêng với ông Tam, lên bờ là ông lại tiếp tục con đường binh nghiệp trong lực lượng hải quân. Từ cấp Lữ đoàn phó, Tham mưu trưởng Lữ đoàn 161 - vùng C Hải quân năm 1982, rồi lên đến Phó Tư lệnh vùng C năm 1994-1999 và về hưu ở cương vị Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân Việt Nam năm 2004.

    Bây giờ, ông già đại tá hải quân Phạm Duy Tam sống an nhàn bên bờ sông Hàn lộng gió. Tuổi hưu tưởng chừng thanh thản của ông sẽ dịu êm trên thành phố biển Đà Nẵng, nhưng trong tâm tư ông vẫn dậy sóng với nỗi lo hướng về biển đảo. Tâm sự với chúng tối, ông tỏ ra tiếc rẻ với những kiến thức “thuộc biển” như lòng bàn tay của mình.

    Những kinh nghiệm từng trải qua bao năm tháng chiến tranh không học viện đào tạo nào sánh nổi đang được ông nung nấu, viết lại thành những câu chuyện, bài học quý giá dành cho lớp học trò của mình ở vùng C Hải quân. Và ông Tam ao ước rằng, những chương trình tuyên truyền, giáo dục về biển đảo cần phải có nhiều hơn để thế hệ trẻ hiểu biết về những mảnh đất xa xôi của tổ quốc, để Trường Sa không còn xa xôi.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Tuấn Anh @ 21:08 03/06/2010
    Số lượt xem: 366
    Số lượt thích: 0 người
    No_avatarf

    Rắn độc: có răng độc (hay răng khóa). Rắn độc có hai tuyến nọc và hai răng độc, do đó khi cắn mổ từ trên xuống có hình chữ V hoặc hình chấm than song song và thường để lại hai vết răng nanh. thanh trượt tròn

    No_avatarf

    Rèn tự do là một phương pháp gia công áp lực để chế tạo các sản phẩm có hình dáng, kích thước và độ chính xác theo yêu cầu định trước nhờ sự biến dạng tự do dần dần về các hướng hộp giảm tốc

    No_avatarf

    Các lá đài của một hoa có thể rời nhau (đài phân) hoặc dính lại (đài hợp), hoặc có sắc màu giống tràng hoa gọi là đài dạng cánh biorhythm

    No_avatarf

    Đó là các nguyên công là phẳng, nắn thẳng, ép vết, cắt vai ... nhằm làm cho vật rèn đạt được hình dáng kích thước chính xác và bề mặt ít nhấp nhô. con trượt

    No_avatarf

    Các lá đài của một hoa có thể rời nhau (đài phân) hoặc dính lại (đài hợp), hoặc có sắc màu giống tràng hoa gọi là đài dạng cánh thanh trượt tròn

    No_avatarf

    Đây là dạng hoạt động GD tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết. hộp số giảm tốc

     
    Gửi ý kiến

    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA !