HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Thi Toán Violympic, IOE

Violympic OlympicTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

Thời tiết 3 miền - Tỉ giá

Hà Nội
Huế
TP HCM

LỊCH HÔM NAY

Liên kết Website

Web Bộ Ngành-Báo Chí

Web Tổng hợp

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

Thành viên trực tuyến

39 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Văn học - Đề thi >

    Ai sáng tác truyện ngắn 'Vợ nhặt'?

    "Vợ nhặt" là tác phẩm quan trọng trong chương trình Văn học lớp 12, miêu tả tình cảnh thê thảm của nông dân trong nạn đói năm 1945 và sức sống kỳ diệu của họ.

                                                                    (Tranh minh hoạ)

    Câu 1: Truyện ngắn "Vợ nhặt" với nhân vật chính là Tràng và những câu hò sau, do ai sáng tác?

    Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
    Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

    A. Kim Lân

    B. Nguyễn Công Hoan

    C. Ngô Tất Tố

    Câu 2: Người "vợ nhặt" của Tràng đã ăn liền mấy bát bánh đúc khi được anh mời?

    A. Hai

    B. Bốn

    C. Sáu

    Câu 3: Tâm trạng của bà cụ Tứ (mẹ của Tràng) khi thấy anh dắt vợ về như thế nào?

    A. Bà mừng rỡ vì có con dâu

    B. Bà lặng im, vừa ai oán vừa xót thương số kiếp cho con

    Câu 4: Trong bữa ăn buổi sáng hôm sau, bà cụ Tứ mời con dâu ăn cám, món mà bà gọi vui là gì?

    A. Chè khoán

    B. Chè đậu xanh

    C. Chè đậu đỏ

    Câu 5: Tên thật của nhà văn Kim Lân là gì?

    A. Trần Hữu Tri

    B. Nguyễn Nguyên Hồng

    C. Nguyễn Văn Tài

    Chân dung của nhà văn - tác gỉa truyện ngắn Vợ nhặt. Ảnh: QĐND.                    Chân dung của nhà văn Kim Lân - tác giả truyện ngắn "Vợ nhặt". Ảnh: QĐND.

    ==> Đáp án:

    Câu 1: A - Đây là tác phẩm của nhà văn Kim Lân

    Vợ nhặt là truyện ngắn của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945, được in trong tập Con chó xấu xí (1962). Nạn đói khủng khiếp lan khắp nước, người chết như rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma. Vợ nhặt được hoàn thành khá lâu sau năm đói, nhưng cảm quan về cái đói đã thấm đến tận cái nhìn vào cảnh vật.

    Nhân vật chính trong truyện là Tràng, chàng trai xấu xí thô kệch, ế vợ, làm nghề kéo xe bò thuê và sống cùng người mẹ già ở xóm ngụ cư. Một lần kéo xe thóc liên đoàn lên tỉnh, anh đã quen một cô gái.

    Kim Lân miêu tả, một lần đang gò lưng kéo xe, Tràng hò một câu cho đỡ nhọc:

    Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!
    Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

    Chủ tâm của Tràng cũng chẳng có ý chòng ghẹo ai, nhưng mấy cô gái xung quanh cứ đẩy vai một cô gái (người mà sau này là vợ Tràng) ra với hắn. Chị ta chạy ra đẩy xe cùng Tràng, hai người quen nhau.

    Nhà giáo Đỗ Kim Hồi trong sách Giảng văn Văn học Việt Nam (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) cho rằng, nhân vật chính của truyện được Kim Lân cho xuất hiện trên nền khung cảnh ảm đạm. Tràng hoang sơ, ngật ngưỡng bước ra trong ánh chiều tàn của cuộc sống không ra cuộc sống. Mang tên một thứ đồ vật của thợ mộc (cái tràng), anh ta là một nhân dạng được tạo hóa đẽo gọt sơ sài: Hai con mắt gà gà, nhỏ tí, hai bên quai hàm bạnh ra, bộ mặt thô kệch, thân hình thì "vập vạp".

    Qua cách miêu tả của Kim Lân, Tràng như kết tinh phần thiên nhiên hoang dã trong con người, cái phần xa lạ hẳn với mọi kiểu trau chuốt của xã hội văn minh. Chưa kể, Tràng còn là kẻ ngụ cư, thời bấy giờ bị coi khinh, ruồng bỏ, một thứ cỏ rác của hương thôn.

    Câu 2: B- Chị ăn liền bốn bát bánh đúc

    Vài ngày sau gặp lại, Tràng không còn nhận ra cô gái ấy bởi vẻ tiều tụy, đói rách làm cô đã khác đi rất nhiều. Tràng đã mời cô gái một bữa ăn, cô liền ăn một lúc bốn bát bánh đúc. Sau một câu nói nửa thật nửa đùa "Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về", cô gái theo anh về làm vợ.

    Theo nhà giáo Đỗ Kim Hồi, phải chờ đến câu này thì sáng tạo nghệ thuật có ý nghĩa quyết định của Kim Lân mới thực sự xuất hiện và guồng máy nghệ thuật trong thiên truyện ngắn kể từ đó mới thực sự vận hành: "Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa".

    Một người đàn bà đã bước vào đời sống của Tràng. Tràng đã có vợ. Người như Tràng mà cũng có vợ. Cái kẻ mang bộ dạng giống như con gấu hoặc gốc cây xù xì, trần trụi ấy, lại ở trong cuộc đời đang bị đẩy sát tới ranh giới phân chia giữa tồn tại và không tồn tại thế kia, mà lại nhặt được đúng cái thứ biểu trưng cho hạnh phúc.

    Tràng có vợ, mà lại có theo cách hiển hách, cứ y như một anh chàng tốt số, đào hoa, chỉ buông ra một vài lời tán tỉnh mà đã có cô nàng vội vã chạy theo. Tưởng đâu là câu chuyện truyền kỳ về một thời thảm hại.

    Câu 3: B- Bà cụ vừa ai oán, vừa xót thương con

    Việc Tràng "nhặt" được vợ đã làm cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, nhất là cụ Tứ (mẹ của Tràng) bàng hoàng bởi bà lo hai người sẽ sống ra sao trong tình cảnh thê lương lúc bấy giờ.

    Trích đoạn Vợ nhặt trong bối cảnh Tràng dẫn vợ về nhà ra mắt mẹ:

    ...Bà lão phấp phỏng bước theo con vào trong nhà. Đến giữa sân bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn. Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ? Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải. Bà lão nhìn kỹ người đàn bà lẫn nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu.

    Tràng tươi cười:

    - Thì u hẵng vào ngồi lên giường lên diếc chĩnh chện cái đã nào.

    Bà lão lập cập bước vào. Người đàn bà tưởng bà lão già cả, điếc lác, thị cất tiếng chào lần nữa:

    - U đã về ạ!

    Ô hay, thế là thế nào nhỉ? Bà lão băn khoăn ngồi xuống giường.

    Tràng nhắc mẹ:

    - Kìa, nhà tôi nó chào u.

    Thấy mẹ vẫn chưa hiểu, hắn bước lại gần nói tiếp:

    - Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau... Chẳng qua nó cũng là cái số cả...

    Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì... Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt... Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?

    Gác lại nỗi lo, bà cụ cũng đã hiểu và chấp nhận con dâu. "Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng", bà cụ Tứ nói với Tràng và vợ.

    Nhà giáo Đỗ Kim Hồi khi phân tích trích đoạn này đã nhấn mạnh câu nói "Kìa, nhà tôi nó chào u". Cái người mà Tràng gọi là "nhà tôi", tức nàng dâu đang thực hiện nghi lễ ra mắt mẹ chồng lại chỉ là người đàn bà nhặt được, theo không, không cưới hỏi, không nhan sắc, bộ áo "cô dâu" trong ngày vu quy xơ xác như tổ đỉa. Tuy nhiên, mấy tiếng "nhà tôi nó chào u" vẫn nghe như có gì nở ruột, nở gan, xác nhận rằng Tràng đã có vợ.

    Khi phân tích về tâm trạng người mẹ, tác giả Đỗ Kim Hồi chú ý việc nhà văn Kim Lân dùng từ "mừng lòng" chứ không phải "bằng lòng" là một sự tinh tế, khéo léo. Câu nói "Có đèn đấy à? Ừ thắp lên một tí cho sáng sủa... Dầu bây giờ đắt gớm lên ấy mày ạ" vừa có vẻ dớ dẩn, không đâu vào đâu của người già, lại vừa lột tả đúng thần thái của một tấm lòng vị tha cao quý đang ngượng ngập, vụng về tìm cách giấu đi dòng nước mắt xót thương vì sợ phiền cho chính người mình thương xót. Những câu nói như thế nói với ta về lòng nhân từ của những người nghèo khổ còn thấm thía hơn bao nhiêu bài thuyết giảng dài dòng.

    Việc bà cụ Tứ lo việc đan cái phên ngăn riêng chỗ vợ chồng đứa con cho kín đáo, chuyện mua lấy đôi gà để nuôi đến những ước mơ xa vời hơn cho thấy, người mẹ sống vì con, hy sinh cho con. Bà tìm thấy ý nghĩa của đời mình giữa những tháng năm tăm tối trong sự vun vén cho con, cho cháu.

    Câu 4: A - Bà cụ gọi đó là 'chè khoán'

    Tâm trạng của Tràng buổi sáng đầu tiên khi có vợ được Kim Lân miêu tả khá tinh tế, đó là cảm giác mới lạ chưa từng thấy tràn ngập tâm hồn anh ta. "Trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong giấc mơ đi ra".

    Tràng bỗng chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới lạ, nhà cửa sân vườn, lối đi vừa được quét dọn sạch sẽ hiện ra trước mắt. "Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía, cảm động".

    Bữa cơm đầu tiên của gia đình họ khi có nàng dâu trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Ăn xong, cụ Tứ bê một nồi khói bốc lên nghi ngút mà bà gọi là "chè khoán", múc ra cho con trai và con dâu. "Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy", bà cụ Tứ nói. Thực chất đây là cách gọi vui của bà, bởi chè khoán là một thứ chè ngon, nấu bằng đậu xanh nhuyễn.

    Đỡ lấy cái bát, hai con mắt vợ Tràng tối lại. Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vào miệng, mồm chun lại ngay vì đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Bữa cơm từ đấy không ai nói với ai câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong, tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người.

    Nhiều người nhận xét, nồi cháo cám này là đỉnh cao của tấm lòng người mẹ nghèo thương yêu hai đứa con vừa tìm đến với nhau giữa những ngày đói khủng khiếp.

    Truyện kết thúc ở chi tiết vào buổi sáng hôm sau tiếng trống thúc thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen. Vợ Tràng nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào.

    Câu 5: C- Nhà văn Kim Lân tên thật Nguyễn Văn Tài

    Trần Hữu Tri là tên thật nhà văn Nam Cao (1917-1951), Nguyễn Nguyên Hồng là tên thật nhà văn Nguyên Hồng (1918-1982).

    Kim Lân sinh năm 1920, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi đi làm. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941, tác phẩm được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật.

    Một số truyện Vợ nhặtĐứa con người vợ lẽĐứa con người cô đầuCô Vịa mang tính chất tự truyện nhưng đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân thời kỳ đó. Nhà văn được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài sinh hoạt văn hóa thôn quê như đánh vật, chọi gà, thả chim. Các truyện Đôi chim thànhCon mã máiChó săn kể lại sinh động những thú chơi kể trên, qua đó biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân.

    Sau năm 1945, ông tiếp tục làm báo, viết văn. Những tác phẩm chính giai đoạn này gồm Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).

    Nhà văn Kim Lân đóng vai Lão Hạc trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy. Ảnh cắt từ video.         Nhà văn Kim Lân đóng vai Lão Hạc trong phim "Làng Vũ Đại ngày ấy". Ảnh cắt từ video.

    Theo GS Trần Đăng Xuyền, trong sách Từ điển tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam dùng cho nhà trường (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2009), cùng với Vợ nhặt, truyện ngắn Làng của Kim Lân xứng đáng thuộc loại những truyện ngắn xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thành công của ông chủ yếu do năng khiếu bẩm sinh và một vốn sống tự nhiên của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng, một lòng đi về với đất, với người, với "thuần hậu nguyên thuỷ" (chữ của nhà văn Nguyên Hồng) của cuộc sống nông thôn.

    Ngoài sáng tác văn học, Kim Lân còn tham gia đóng phim với một số vai tiêu biểu như Lão Hạc (phim Làng Vũ Đại ngày ấy), Lý Cựu (phim Chị Dậu), Lão Pẩu (phim Con Vá), Cụ lang Tâm (phim Hà Nội 12 ngày đêm).

    Năm 2001, nhà văn Kim Lân được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông mất năm 2007 tại Hà Nội.

    (theo VnExpress)


    Nhắn tin cho tác giả
    phạm lan @ 09:49 11/05/2021
    Số lượt xem: 21
    Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Tuấn Anh)
     
    Gửi ý kiến

    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA !