Đặc điểm không gian - thời gian nghệ thuật trong truyện “Chí Phèo” của Nam Cao trên bình diện thi pháp học

Nguồn: st
Người gửi: Nguyễn Tuấn Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:51' 11-01-2013
Dung lượng: 56.5 KB
Số lượt tải: 76
Số lượt thích: 0 người
Đặc điểm không gian - thời gian nghệ thuật trong truyện “Chí Phèo” của Nam Cao trên bình diện thi pháp học
A. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn tiêu biểu nhất thế kỉ XX. Sáng tác của ông đã vượt qua được sự thử thách khắc nghiệt của thời gian. Thời gian càng lùi xa, tác phẩm của Nam Cao càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo. Nhắc đến Nam Cao, ta không thể không nhắc đến kiệt tác nghệ thuật “Chí Phèo”. Chỉ là một truyện ngắn, lại là truyện ngắn sáng tác sớm về đề tài nông dân nhưng “Chí Phèo” thực sự là sự tổng hợp, sự kết tinh của ngòi bút Nam Cao về đề tài này. Nếu như Nam Cao có thể được coi là “nhà văn của nông dân”- cùng với Ngô Tất Tố - thì trước hết vì ông có “Chí Phèo”. Hơn sáu mươi năm kể từ khi “Chí Phèo” ra đời, trong giới nghiên cứu, phê bình văn học đã có rất nhiều bài viết tập trung khai thác tác phẩm ở khía cạnh nội dung, tư tưởng. Tuy nhiên, nếu phân tích truyện ngắn này từ góc độ thi pháp học, ta sẽ phát hiện được nhiều điều thú vị về hình tượng nghệ thuật nhất là trên phương diện không gian - thời gian nghệ thuật. Không gian - thời gian trong “Chí Phèo” khi đi vào nghệ thuật được soi rọi bằng tư tưởng, tình cảm, được nhào nặn và tái tạo trở thành một hiện tượng nghệ thuật độc đáo thấm đẫm cá tính sáng tạo của nhà văn. Cảm quan về thời gian và không gian gắn liền với cảm quan về con người và cuộc đời, gắn bó với mơ ước và lí tưởng của tác giả. Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài: “Phân tích đặc điểm không gian – thời gian nghệ thuật trong truyện “Chí Phèo” của Nam Cao” trên bình diện thi pháp học. 2. Lịch sử nghiên cứu vần đề Hơn nửa thế kỉ qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc về Nam Cao. Mở đầu là cuốn “Nghĩ tiếp về Nam Cao” do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 1992. Tiếp theo là cuốn “Nam Cao, đời văn, tác phẩm” của GS. Hà Minh Đức (NXB Văn học, 1997) và cuốn “Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân dung” của GS. Phong Lê ( NXB Khoa học xã hội, 1997). Đây là những công trình khoa học toàn diện và hệ thống của những chuyên gia hàng đầu đã gần bốn mươi năm đầu tư với di sản văn học phong phú và đặc sắc của Nam Cao. Ngoài ra, còn có những bài viết hoặc ý kiến phát biểu ở các hội thảo về Nam Cao của các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Trần Đăng Xuyền… Giới nghiên cứu, phê bình hiện đại nghiên cứu Nam Cao trên nhiều cách tiếp cận mới về phong cách, thi pháp, ngôn ngữ…Tuy nhiên, phương diện thời gian và không gian nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao nói chung và trong tác phẩm “Chí Phèo” nói riêng chưa được chú ý và xem xét một cách kĩ lưỡng. Trên cơ sở tiếp thu những bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu, tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu đề tài này. Hi vọng rằng, đây cũng sẽ là những kiến thức bổ ích cho những ai yêu và muốn tìm hiểu về Nam Cao cũng như kiệt tác “Chí Phèo” của ông. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm không gian - thời gian nghệ thuật trong truyện “Chí Phèo” của Nam Cao trên bình diện thi pháp học. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là văn bản tác phẩm “Chí Phèo” trong cuốn “Tuyển tập Nam Cao”, 2005, NXB Văn học. 4. Phương pháp nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành bằng những phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu tác giả, tác phẩm - Phương pháp thống kê - Phương pháp phân tích - Phương pháp tổng hợp và nâng cao vấn đề 5. Giới thuyết thuật ngữ Theo Lê Bá Hán, 2009, “Từ điển thuật ngữ văn học”, NXB Giáo dục: * Không gian nghệ thuật: Là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định (…). Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan. Ngoài không gian vật thể có không gian tâm tưởng. Do vậy, nó có tính độc lập tương