HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Thi Toán Violympic, IOE

Violympic OlympicTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

Máy tính bỏ túi

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

Thời tiết 3 miền - Tỉ giá

Hà Nội
Huế
TP HCM

LỊCH HÔM NAY

Liên kết Web GD

Web Bộ Ngành-Báo Chí

Liên kết Web Tổng hợp

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

Tin Báo mới

Thành viên trực tuyến

18 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Trangngoc1.gif Anh_1_2.JPG NKLTTC.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL_Mai_truong_my.mp3 NKL_La_thu.mp3 NKL_BAI_CA_NGV.mp3 Nhac_nen_du_thi_ke_chuyen_ve_Bac.mp3 Cay_canh.jpg Calculator.swf Tucngu54.swf Dong_ho_lichSen_va_Trang.swf Dong_ho_lichdan_tranh2.swf Dong_ho_hoa_sen.swf Chao_nam_hoc_moi_20112012.swf Lich_Tet_1.swf

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Lịch sử - Hồ sơ > Sự kiện - nhân vật >

    Hành trình chữ Quốc ngữ khai tử chữ Hán trên đất Việt

                                       Một lớp học của Đông Kinh Nghĩa Thục - Ảnh: Internet  

    Trong việc phát triển chữ Quốc ngữ, người Pháp có chủ trương và toan tính riêng phục vụ lợi ích của họ. Tuy nhiên, việc này lại mang rất nhiều tiện lợi cho người Việt Nam khi chúng ta không còn phụ thuộc vào hệ thống chữ Hán khó đọc, khó nhớ nữa.

    Ngạc nhiên về trình độ viết quốc ngữ của người Việt những ngày đầu

    Để chữ quốc ngữ có thanh điệu, cần ghi công một cậu bé

    Chữ quốc ngữ buổi đầu: Người Nhật chê, người Việt nhận

    Có lẽ điều người Pháp không thể ngờ rằng chữ Quốc ngữ chính là phương tiện để người Việt phổ biến, hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đòi độc lập.
     
    Sau khi được các nhà truyền giáo phát minh vào đầu thế kỷ 17 mà điểm nhấn là bộ tự điển Việt – Bồ - La của cha Đắc Lộ, chữ Quốc ngữ có nhiều cải biến để ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, suốt gần 3 thế kỷ, chữ Quốc ngữ không được trọng dụng mà chỉ ‘lưu hành nội bộ’ trong cộng đồng của người theo đạo Công giáo.

    Các triều đình phong kiến Việt Nam vốn có ác cảm với các nhà truyền giáo phương Tây đã không tôn trọng chữ Quốc ngữ. Với các nhà nho thì chữ Hán được coi là chữ Thánh hiền và họ không chấp nhận chữ Quốc ngữ của Tây phương. Đó là lý do chữ Quốc ngữ dù ra đời thế kỷ 17 nhưng không được phổ biến trong thế kỷ 18, 19. Vào thời điểm đó, ngoài chữ Hán thì ở Việt Nam còn có chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đều là những văn tự ghi tiếng nói của người Việt Nam. Nếu so sánh thì chữ Quốc ngữ rất gần chữ Pháp, lại rất tiện lợi, dễ học, dễ nhớ hơn nhiều so với chữ Nôm.

    Chữ Nôm tuy là để ghi tiếng của người Việt nhưng lại mượn chữ Hán thành ra có thể coi là là cách thức dùng chữ Hán giải mã tiếng Việt. Nếu chữ Hán khó một thì thì chữ Nôm khó 10 vì người giỏi chữ Nôm thì phải cực thạo chữ Hán và nhanh ý để nhìn hình đoán chữ.

    Đáng lẽ với sự tiện lợi của chữ Quốc ngữ như vậy thì phải được dân ta khi đón nhận nồng nhiệt. Nhưng như đã nói, giới sĩ phu Việt Nam đã cực lực chống lại các chính sách ngôn ngữ của nhà cầm quyền Pháp. Họ quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang, là công cụ truyền bá của các nhà truyền giáo. Họ muốn duy trì học chữ Hán bởi vì học chữ Hán là được giáo dục về luân lí về lịch sử, còn học chữ Quốc ngữ thì chỉ như một trò chơi, khi người ta biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ người ta không biết gì cả.

    Ngay cả khi không thể dùng chữ Hán để ghi văn bản của người Việt thì họ thà dùng chữ Nôm còn hơn dùng chữ Quốc ngữ. Năm 1867, Nguyễn Trường Tộ chính thức đề nghị triều đình Huế sử dụng chữ Nôm.

    Phải đến khi người Pháp dùng các biện pháp chế tài mạnh mẽ thì chữ Quốc ngữ mới bắt đầu được dùng. Ngày 22.2.1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ vốn do người Pháp cai trị khi đó. Trước đó, năm 1861, một trường dạy tiếng Việt được thiết lập ở Sài Gòn để đào tạo những viên thông ngôn người Pháp.

    Nghị định 82 ký ngày 6. 4. 1878 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký cũng đề ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ: “Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”

    Để khuyến khích việc truyền bá chữ Quốc ngữ, nhà chức trách thuộc địa Nam Kỳ còn ra nghị định ngày 14.6.1880 giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào hương lý nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ

    Cũng may là người Pháp áp việc dùng chữ Quốc ngữ ở Nam Kỳ đầu tiên. Người miền nam nhìn chung có tâm lý phóng khoáng và thực dụng nên tiếp nhận việc dùng Quốc ngữ khá dễ dàng. Cuối thế kỉ XIX, các trí thức Nam Kì như cụ Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Tống, Trương Minh Kí, Nguyễn Trọng Quản... là những người đi đầu trong chủ trương truyền bá chữ Quốc ngữ và phát triển tiếng Việt.

    Khi người Việt ở Nam Kỳ nhận thấy sự tiện lợi của chữ Quốc ngữ thì chính quyền Pháp bắt đầu tạo áp lực để dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán ở Bắc và Trung Kỳ vào đầu thế kỷ 20. Triều đình Huế lúc này đã quá suy yếu nên đành phải nhượng bộ trước áp lực của người Pháp. Thượng thư bộ Học là Cao Xuân Dục có công văn trả lời Toàn quyền Đông Dương với ý tán đồng "cả nước cùng học chữ Quốc ngữ La Tinh, tuyển chọn các vị cử nhân, tú tài, tôn sinh, ấm sinh người bản quốc sung làm giáo sư và thành lập viện dịch chữ Quốc ngữ... Nay vâng mệnh Hoàng đế bản quốc lập ra trường chuyên dạy thứ chữ này chính là muốn thống nhất một lối dùng làm thứ chữ dạy học phổ thông”.

    Năm 1910, chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ. Năm 1915 thì kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ mặc cho sự chống đối của giới sĩ phu. Ở Trung Kỳ thì đạo dụ của vua Khải Định ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28.12.1918) chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế.

    Trong việc phát triển chữ Quốc ngữ, người Pháp có chủ trương và toan tính riêng phục vụ lợi ích của họ. Tuy nhiên, việc này lại mang rất nhiều tiện lợi cho người Việt Nam khi chúng ta không còn phụ thuộc vào hệ thống chữ Hán khó đọc, khó nhớ nữa. Các nhân sĩ tiến bộ ngoài Bắc cũng nhanh chóng nhận ra lợi ích của chữ Quốc ngữ để kêu gọi mọi người hưởng ứng rộng rãi. Đầu thế kỉ 20 ở ngoài Bắc, hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) cũng đã dấy lên phong trào học chữ Quốc ngữ, coi chữ Quốc ngữ là phương tiện khai hoá quốc dân. Các cụ khẳng định:

    Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước

    Phải đem ra tính trước dân ta

    Sách các nước, sách Chi Na

    Chữ nào chữ ấy dịch ra cho tường.

    Trong Văn minh tân học sách của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết: "Người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong thời gian một vài tháng, đàn bà, trẻ con đều biết chữ và người ta có thể dùng Quốc ngữ để ghi việc đời xưa và chép việc đời nay... Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy".

    Có lẽ điều người Pháp không thể ngờ rằng chữ Quốc ngữ chính là phương tiện để người Việt phổ biến, hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đòi độc lập.

    Việc chúng ta chuyển từ Hán tự sang chữ Quốc ngữ cũng phải trả một cái giá, đó là hầu hết người Việt Nam ta không đọc được chữ các cụ ngày xưa (nhất là khi vào đền chùa). Tuy nhiên, cái giá đó quá rẻ so với việc đại bộ phận người dân biết chữ thay vì chỉ một số nhỏ biết chữ Hán thời phong kiến.

    Thế nhưng, nếu cải cách chữ theo như đề xuất của PGS.TS Bùi Hiền - tác giả công trình nghiên cứu cải tiến bảng chữ cái tiếng Việt thì e rằng thế hệ sau này xa lạ với các dòng chữ mà chúng ta viết hiện giờ. Cái giá khi đó lại trở thành quá đắt.

    *(Bài viết có tham khảo thông tin trong bài Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kì lịch sử của GS-TS Nguyễn Thiện Giáp)

    theo Anh Tú/Một thế giới


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoài Thu @ 17:44 06/12/2017
    Số lượt xem: 10
    Số lượt thích: 1 người (Hoài Thu)
     
    Gửi ý kiến