HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

QPVN

Thi Toán Violympic, IOE

Violympic OlympicTrạng nguyên Tiếng việtChơi cờ Vua Cờ Tướng

Máy tính bỏ túi

TÀI NGUYÊN - TRI THỨC

Thời tiết 3 miền - Tỉ giá

Hà Nội
Huế
TP HCM

LỊCH HÔM NAY

Liên kết Web GD

Web Bộ Ngành-Báo Chí

Liên kết Web Tổng hợp

DỰNG NƯỚC - GIỮ NƯỚC

QPVN

Tin Báo mới

Thành viên trực tuyến

5 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_1_2.JPG NKLTTC.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL.mp3 NKL_Mai_truong_my.mp3 NKL_La_thu.mp3 NKL_BAI_CA_NGV.mp3 Nhac_nen_du_thi_ke_chuyen_ve_Bac.mp3 Cay_canh.jpg Calculator.swf Tucngu54.swf Dong_ho_lichSen_va_Trang.swf Dong_ho_lichdan_tranh2.swf Dong_ho_hoa_sen.swf Chao_nam_hoc_moi_20112012.swf Lich_Tet_1.swf Lich_am_duong.swf Flashdanhngon.swf Xoa_link.swf

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm thông tin

    Google.com.vn Trang này
    Gốc > Tác phẩm văn học - Đề thi >

    Thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt thông dụng thường dùng

             Kết quả hình ảnh cho Thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt

    Ác giả ác báo, thiện lai thiện báo.
    ( Làm ác gặp ác, ở hiền gặp lành )

    Anh hùng nan quá mỹ nhân quan.
    (Anh hùng không qua được ải người đẹp)

    An thân, thủ phận. An phận, thủ thường
    (Muốn bình an, thì nên biết khả năng của mình. Muốn giữ bình an thì đừng làm gì quá khả năng của mình)

    半信半疑
    Bàn xìn bàn yí
    Bán tín bán nghi

    Bần cư tại thị vô nhân vấn, Phú tại sơn lâm hữu khách tầm
    (Nghèo khổ sống nơi đô thị không ai tìm. Giàu có dù sống nơi rừng núi cũng có người tìm tới)

    Bất chiến tự nhiên thành
    Không cần đánh cũng thắng. đồng nghĩa với "gặp đúng thời vận "

    知己知彼
    Zhī  jǐ  zhī  bǐ
    Biết người biết ta

    Cẩn ngôn vô tội , Cẩn tắc vô ưu
    ( Cẩn thận lời nói thì tránh được tội, cẩn thận trong mọi việc thì không lo lắng về sau)

    改邪归正 
    Gǎi xié guī zhèng
    Cải tà quy chính

    敢做敢当
    Gǎn zuò gǎn dāng
    Dám làm dám chịu

    名不虚传
    Míng bù xū chuán
    Danh bất hư truyền

    Danh chính, ngôn thuận, sự tất thành.
    (Việc đúng, nói nghe xuôi tai, việc sẽ trôi chảy)

    Danh bất chính, ngôn bất thuận, sự bất thành.
    (Việc không đúng, nói nghe không lọt lỗ tai, việc sẽ không tới đâu)

    Dục tốc bất đạt
    (Vội vàng để làm điều gì sẽ hư việc)

    Dưỡng hổ di họa 
    ( Nuôi cọp sẽ mang hoạ - không biết nó cắn chết lúc nào vì dù sao vẫn là thú tính ).

    Dự bị hơn phòng bị, phòng bị hơn chuẩn bị. 
    (Giống với câu tục ngữ "Đừng nên chờ nước đến chân mới nhảy" trong tiếng Việt)

    Đa tình tự cổ nan di hận
    (Từ xưa đa tình chỉ để lại mối hận)

    大难不死就有后福
    Dà nàn bù sǐ jiù yǒu hòu fú
    Đại nạn không chết ắt sẽ có phúc lớn

    道不同,不相为谋Dào bù tóng, bù xiāng wéi móu
    Đạo bất đồng bất tương vi mưu
    ( Không cùng chí hướng, quan niệm thì không thể hợp tác, bàn luận )

    Đạo bất đồng bất tương di ngôn

    Đồng đạo bất đồng lộ
    ( Cùng chí hướng nhưng không cùng chung đường )

    读万卷书, 行万里路
    du wan juan shu ,  xing wan li  lu
    Đọc một quyển sách bằng đi vạn dặm đường

    经一事长一智
    Jīng yī shì zhǎng yī zhì
    Đi 1 ngày đàng học 1 sàng khôn

    Địa ngục vô môn, hữu khách tầm
    (Địa ngục không cửa nhưng lại có người tìm đến. Điều xấu xa, tội lỗi thì mọi người lại thích làm)

    Điểu vị thực Vong, Nhân vị lợi Vong 
    (Loài chim vì ăn mà chết, người vì lợi mà cắm đầu vào chỗ chết)

    徐娘半老 
    Xú niáng bàn lǎo
    Già rồi còn đa tình

    恨鱼剁砧
    Hèn yú duò zhēn
    Giận cá chém thớt

    虎毒不吃子 
    Hǔ  dú  bù  chī zi
    Hổ dữ không ăn thịt con

    Hữu xạ tự nhiên hương. 
    (Tài giỏi tự dưng người ta biết đến, như mùi hương tự nó tỏa ra) 

    Hữu danh vô thực 
    (Giống với câu tục ngữ "có tiếng mà không có miếng" trong tiếng Việt. 

    Hoa rơi hữu ý,  nước chảy vô tình 
    (Câu này để chỉ hành động cố ý làm rớt vật gì đó như...tiền chẳng hạn hoặc có hành động gì đó trước mặt người mình thích để tạo sự chú ý, nhưng người đó lại vô tình không biết ! Hic hic hic...) 

    Hoạn lộ, Họa lộ . 
    (Đường công danh lại chính là đường tai hoạ) 

    Hữu phận vô duyên 
    (Dành cho đôi lứa có gặp gỡ, có tình yêu mà không đi đến hôn nhân, 
    tương đương với câu "có duyên không phận") 

    Hữu tài vô phận 
    (có tài mà không làm được gì to tát cả)

    挑肥拣瘦 
    Tiāo féi jiǎn shòu
    Kén cá chọn canh

    铢两悉称
    Zhū liǎng xī chèn
    Kẻ tám lạng , người nửa cân

    无风不起浪
    Wú fēng bù qǐ làng
    Không có lửa làm sao có khói.

    不听老人言/ 吃亏在面前
    Bù tīng lǎo rén yán  / chī kuī zài miàn qián
    Không nghe người lớn thì sẽ gặp bất lợi

    Mãnh hổ nan địch quần hồ 
    (Hổ dữ cũng không thể đánh thắng một thế lực cáo già)

    Mỹ nhân tự cổ như danh tướng 
    (Tự ngàn xưa, người đẹp ví như tướng tài)

    一本万利
    Yī běn wàn lì
    Một vốn bốn lời

    Nhân bất học bất tri lý
    (Người không học, không suy xét được phải trái)

    Ngọc bất trác, bất thành khí 
    (Ngọc không mài giũa, không sáng đẹp)

    Ngọc khiết băng thanh.
    (dùng để tả sự trong trắng, tinh khiết của người con gái) 

    Nhất nghệ tinh, Nhất thân vinh 
    (Giỏi một nghề thì ấm thân. Câu này rất đúng trong quá khứ nhưng chỉ đúng một phần cho thời buổi chộp giựt như hiện tại) 

    Nhân sinh vô thập toàn 
    ( Đã là con người thì không có ai là hoàn mỹ )

    Ngôn sở bất tri, Tri sở bất ngôn .
    ( Người nói ra thì không biết, Người biết thì không nói ra.) 

    Nhi nữ tình trường , Anh hùng khí đoản 
    (Câu này mà dịch theo nghĩa đen, thì nó tục lắm nhưng nó có một cái nghĩa bóng lợi hại hơn nhiều "Vướng vào vòng tục luỵ trai gái thì người anh hùng sẽ không còn chí khí nữa". 

    Nhàn cư vi bất thiện. 
    (Ở không lười biếng sẽ sinh ra tật xấu) 

    Oan oan tương báo, Dỉ hận miên miên. ( Dĩ hận miên miên bất tuyệt kỳ )
    Nỗi oán thù không dứt, hận thù sẽ đời đời. (Nỗi hận triền miên không bao giờ hết) 

    Oan gia gia trả , Oan tình tình vương.
    (Nỗi oan trong gia đình thì gia đình giải quyết, Nỗi oan trong tình trường thì khó giải quyết, hệ luỵ còn vương vấn mãi.)

    Pháp bất vị thân, Nghĩa bất dung tình. 
    ( Có nghĩa là người nắm luật pháp không nên nể vì người thân mà nhẹ tay. Còn "nghĩa bất dung tình" chính nghĩa cũng không nể vì tình nghĩa. 

    Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. 
    ( May mắn có thể không lặp lại nhưng điều xui xẻo thì hay đến liên tiếp trong một khoảng thời gian nhất định nào đó) 

    Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc. 
    (Giàu có thì sinh ra nghi thức, lễ nghĩa. Nghèo khổ thì sinh ra kẻ xấu tính, ăn cắp, ăn trộm...Điều này đúng với mọi thời đại) 

    Phục hổ, tàng Long 
    ( Con hổ đang nằm, và con rồng đang ẩn cư. Để chỉ người có tài đang núp dưới danh phận nào đó)

    千里送鹅毛 / 礼轻情意重
    Qiān lǐ  sòng ér máo  / lǐ  qīng qíng  yì zhòng
    Quà ít lòng nhiều

    Quốc hữu quốc pháp, Gia hữu gia quy. 
    Nước có luật nước, gia đình có luật lệ của gia đình.

    Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên 
    (Sống chết là tại số kiếp, giàu có do trời xếp đặt)

    Song hổ phân tranh, nhất hổ tử vong 
    (Hai con cọp mà đánh nhau thì phải có một con chết) 

    Tận nhân lực, tri thiên mệnh 
    (Làm hết sức của mình mới hiểu được ý trời)  

    Tống cựu, nghinh tân 
    (Dẹp bỏ cái cũ, chào đón cái mới. Câu này hay được dùng trong những dịp cuối năm) 

    Tha hương ngộ cố tri 
    (Xa quê hương, gặp lại người đồng hương) 

    Tha phương cầu thực. 
    (Cầu thực để chỉ mong muốn được ăn no. Ngày xưa người ta làm chỉ mong được ăn cho no, mặc cho ấm thôi. Ngày nay câu này có ý nghiã rộng hơn, đi làm ăn xa để mong khấm khá hơn)

    失败是成功之母.
    shi bai shi cheng gong zhi mu:
    Thất bại là mẹ của thành công

    放虎归山 
    Fàng hǔ guī shān
    Thả hổ về rừng

    Tham sanh huý (uý) tử 
    (Ham sống sợ chết. Phần lớn ai mà chả thế

    胜不骄,败不馁 
    Shèng bù jiāo,   bài bù něi
    Thắng không kiêu,bại không nản

    Thi ân bất cầu báo. 
    (Làm ơn không cần báo đáp) 

    Thiên bất dung gian 
    (Trời không tha cho kẻ gian tà, kẻ có hành động xấu xa) 

    Thiên ngoại hữu thiên, Nhân ngoại hữu nhân 
    (Bên ngoài bầu trời có bầu trời khác, người tài có người tài hơn. Tương đương với câu tục ngữ "vỏ quít dầy có móng tay nhọn" hoặc "cao nhân đắc hữu cao nhân trị" ) 

    Thiên lý tuần hoàn 
    (Lẽ trời xoay chuyển. Không có gì tồn tại mãi )

    Thiên duyên tiền định 
    (Tình duyên là do trời định) 

    Thiên thai lạc lối, Thiên thu lạc đường.
    (Ý chỉ ra rằng ham vui, ham vật chất, làm những điều sai trái thì sẽ không thể trở lại được nẻo ngay. Thực vậy, vật chất làm cho con người mờ mắt, khi đã có, muốn có thêm, khi đã sai càng sai thêm..)

    Thiên la địa võng 
    (Lưới trời lồng lộng. Câu này để chỉ làm ác sẽ có ngày gặp hậu quả. Không bị người phạt thì cũng bị trời phạt)

    Thọ ân mạc khả vong 
    (Nhận ơn thì không bao giờ quên) 

    Thời thế tạo anh hùng 
    (Những thay đổi khách quan trong hoàn cảnh như loạn lạc chẳng hạn sẽ sinh ra người tài để dẹp loạn. Câu này trái nghĩa với câu "anh hùng tạo thời thế" có nghĩa là có một người nào có một ý nghĩ hay, một hành động hay đứng ra thuyết phục được đám đông rồi từ đó thay đổi hoàn cảnh, lịch sử...) 

    Thuận thiên hành đạo 
    (Hành động theo ý trời là Thụ động. Khác với câu "thế thiên hành đạo"là chủ động ra tay !)

    Tiểu phú do cần, triệu phú do thiên 
    (Giàu nhỏ do tích tụ cần kiệm, giàu to do trời ban) 

    Tiểu Nhân đắc chí, Quân Tử gặp phiền 
    (Kẻ xấu lên mặt, người tốt cảm thấy khó chịu) 

    Tiên hạ thủ di (vi) cường 
    (Ra tay trước sẽ dành ưu thế. Chỉ đúng trong vài trường hợp. Thường thì dùng "tuỳ cơ ứng biến" là hay nhất. Đôi khi lùi lại ba bước để xem đối thủ ra chiêu gì rồi mình mới tiếp chiêu. Kẻ khôn thường sẽ không ra chiêu trước mà chờ đối phương ra chiêu để đánh giá thực hư rồi mới hành động) 

    Tích cốc phòng cơ, tích tơ phòng hàn 
    (Để dành đồ ăn cho những lúc đói kém cơ cực, để dành áo ấm cho những lúc đói rét) 

    才脱了阎王 / 又撞着小鬼
    Cái tuō le yán wáng / yòu zhuàng zhe xiǎo guǐ
    Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa

    年幼无知
    Nián yòu wú zhī
    Trẻ người non dạ

    Tứ hải giai huynh đệ 
    Bốn bể đều là anh em. Cả loài người đều là anh em.

    Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa. 
    ( Uống rượu chung với tri kỷ, hoặc là người hiểu mình thì uống cả ngàn ly cũng chả say. Nói với người không hiểu mình thì có nói nhiều họ cũng không hiểu dù chỉ nữa câu.)

    Tửu nhập sầu trường, sầu càng sầu 
    (Uống rượu để giải toả nỗi buồn dai dẳng thì buồn càng buồn hơn)

    Uy vũ bất năng khuất 
    (Bạo lực không khuất phục được lòng người)

    酒入言出
    Jiǔ  rù yán chū
    Rượu vào lời ra

    Vạn sự khởi đầu nan 
    (Việc gì bắt đầu bao giờ cũng có nhiều khó khăn, gian nan)

    Vô can kỷ sự, bất khả đương đầu 
    (Việc không liên quan đến mình thì khó mà chống đỡ)

    Ý tại ngôn ngoại 
    (Người nghe có thể hiểu ngầm hoặc khác ý người nói) Flower

    ==> Khổng Tử Danh Ngôn

    (1)學而時習之,不亦說乎 !
    (1)Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ! 
    (Học đi với hành, không chỉ nói cho qua chuyện)

    (2)巧言令色,鮮矣仁! 
    (2)Xảo ngôn lệnh sắc, tiên hĩ nhân! 
    (Người có lời nói xảo quyệt hoa hoè là người không có lòng tốt!
    Tương đương với câu ca dao sau
    "Bề ngoài thơn thớt nói cười
    Bề trong nham hiểm giết người không dao") 


    3)道千乘之國,敬事而信,節用而愛,使民以時。
    3Đạo thiên thừa chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời. 
    ( Trong việc trị quốc, phải thận trọng không hứa ẩu, biết đãi người hiền, phải được lòng dân)

    4)為政以德,誓如北辰,居其所而眾共之。
    4Vi chính dĩ đức, thệ như bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh cộng chi. 
    (Trị quốc lấy đức làm trọng, mệnh lệnh như sao Bắc đẩu, duy nhất rõ ràng để mọi người tuân theo)

    5)道之以政,齊之以刑,民免而無恥道之以德,齊之以禮,有恥且格。
    5Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách. 
    (
    Trị dân dùng pháp chế, hình phạt là chính, dân không dám làm điều phạm pháptrị dân dùng đạo đức, dùng phép tắc, lòng tốt và nhân cách sẽ cảm hoá được dân) 

    6)溫故而知新,可以為師矣。
    6Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ. 
    (Ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi đáng làm thầy người khác)

    7)學而不思則罔,思而不學則
    7Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi. 
    (Học mà không nghĩ thì mất hết, nghĩ mà không học thì mỏi mệt- Sư Tuệ Quang dịch)
    (Học như con vẹt, chả tới đâu, nghĩ mà không học thì đâm ra nghi ngờ)

    Bộ: đãi (
     đãi 

    1. Nguy. Như ngập ngập hồ đãi tai 乎殆哉 cheo leo vậy nguy thay !
    2. Mỏi mệt.
    3. Bèn, dùng làm tiếng giúp lời.
    4. Sợ. Như đãi bất khả cập 殆不可及 sợ chẳng khá kịp.
    5. Ngờ.
    6. Gần, thân gần.
    7. Chỉ thế.
    8. Hầu như.


    8)知之為知之,不知為不知,是知也
    8Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã. 
    (Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết)

    9)人而無信,不知其可也。
    9Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. 
    (Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc)

    10)朝聞道,夕死可矣。
    10Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ. 
    (Sáng nghe đạo, tối chết cũng cam-Wiktionary dịch)
    (Sáng nghe điều hay, tối chết cũng an lòng)

    11)父母在,不遠游,游必有方。
    11Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương. 
    (Cha Mẹ còn sống, con cái không nên đi xa, nếu đi phải cho cha mẹ biết nơi đến. Tương đương với câu "đi thưa về trình" trong tiếng Việt) 

    12)始吾于人也,听其言而信其行;今于人也,听其言而觀其行。
    12Thuỷ ngô vu nhân dã, thính kỳ ngôn nhi tín kỳ hành kim ngô vu nhân dã, thính kỳ ngôn nhi quán kỳ hành.(...?)

    13)敏而好學,不恥下問,是謂之也。
    13Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn, thị vị chi “văn ”dã. 
    (Thông minh và hiếu học thì không thẹn hỏi kẻ dưới mình, Vậy mới thật gọi là có trình độ)

     Văn hoa, chỉ cốt bề ngoài cho đẹp, không chuộng đến sự thực gọi là văn. Như phồn văn 繁文phù văn 浮文, v.v.
    Văn hoa trong trí não gọi là trình độ văn hoá 


    14)中人以上,可以語上也;中人以下不可以語上也。
    14Trung nhân dĩ thượng, khả dĩ ngữ thượng dã; trung nhân dĩ hạ, bất khả dĩ ngữ thượng dã. 
    (Đối với những người có tư chất từ bậc trung trở lên thì mới có thể nói đến những điều cao xa; đối với những người có tư chất từ bậc trung trở xuống thì không thể nói những điều cao xa-Đàm Trung Pháp dịch. Tương đương với thành ngữ tiếng Anh "independent study, self-paced instruction, gifted and talented program, laureate program")

    15)知者樂水,仁者樂山。知者動,仁 靜。知者樂,仁者壽。
    15Tri giả lạc thuỷ, nhân giả lạc sơn. Tri giả động, nhân giả tĩnh. Tri giả lạc, nhân giả thọ 
    (Người biết cảm nhận và vui với vẻ đẹp sông nước, núi non. Cảm nhận sự động, tĩnh của sự vật. Biết vui thú, sẽ sống thọ)

     Tri, là cảm nhận, nhận thức, biết
     Giả, là phân biệt
     Nhân(lòng), là tấm lòng
     Lạc, là lạc thú, là thú vui

    16)民可使由之,不可使知之。
    16Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi. 
    (Có thể làm cho dân theo con đường của ta, không thể làm cho họ biết đó là cái gì-Wikibooks dịch)(????)
    (Có thể ép buộc dân theo đường lối của mình, nhưng không thể cấm đoán suy nghĩ của con người) dùng trong chính trị -UKH

    17)篤信好學,死守善道。危邦不人,邦不居,天下有道則見,無道則隱。
    17Đốc tín hiếu học, tử thủ thiện đạo. Nguy bang bất nhân, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến, vô đạo tắc ẩn . 
    (Dốc lòng học hỏi, giữ đạo tới chết. Đất nước nguy nan đừng đến, đất nước có loạn đừng ở, nơi yên ổn nên thì ra làm quan, nơi bất ổn thì ở ẩn) 

    篤信好學
    守死善道
     (Thái Bá 泰伯) Vững tin ham học, giữ đạo tới chết. 


    危邦不人 phải đổi lại là 危邦不chữ nhân(人) đổi lại là chữ nhập(入). Bản gốc thiếu một nét nhỏ trên đầu chữ nhân.


    (18)不在其位,不謀其政。 
    (18)Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính . 
    (Không ở vị trí thích hợp, không nên toan tính chuyện. Ý nói "hãy an phận thủ thường"???)
     

    (19)后生可畏,焉知來者之不如今也 ㊣四十五十而無聞焉,廝亦不足畏也! 
    (19)Hậu sinh khả uý, yên tri lai giả chi bất như kim dã chính tứ thập ngũ thập nhi vô văn yên, tư diệc bất túc uý dã dĩ! 
    (
     Lớp trẻ là đáng sợ, biết đâu sau này không như ngày nay. Người bốn, năm mươi tuổi mà không có tiếng tăm gì, thì cũng không đáng sợ.-Wikibooks)


    (20)三軍可奪帥也,匹伕不可奪志也 。
    (20)Tam quân khả đoạt soái dã, thất phu bất khả đoạt chí dã. 
    (Ba đạo quân có thể cướp ngôi, nhưng không thể sai khiến ý chí của kẻ thất thế)

    (21)知者不惑;仁者不憂;勇者不懼 。 
    (21)Tri giả bất hoặc; nhân giả bất ưu; dũng giả bất cụ. 
    (Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân
     thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi
    )

    //(20)Tẩm bất thi, cư bất dung. --->chữ Hán không đúng, không dịch được

    //(22)克己复禮,為仁。--->chữ Hán không đúng, không dịch được
    //(21)Quá do bất cập. 

    (22)克己复禮,為仁。
    (22)Khắc kỷ phúc lễ, vi nhân . 
    (Cạnh tranh bất chính để đạt được cái mình muốn gọi là lòng ích kỷ)

    1. khắc kỉ phục lễ克己復禮 đánh đổ lòng muốn xằng của mình để lấy lại lễ. Các nhà buôn bán giảm giá hàng cũng gọi là khắc kỉ


    (23)非禮勿視,非禮勿听,非禮勿言 ,非禮勿動。
    (23)Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động . 
    (không nhìn điều sai, không nghe điều tầm bậy, không nói điều trái, không làm điều quấy)

    (24)己所不慾,勿施于人;在邦無怨 ,在傢無怨。
    (24)Kỷ sở bất dục, vật thi vu (ư) nhân; tại bang vô oán, tại gia vô oán . 
    (Điều mình không thích thì đừng làm cho người khác; Nơi quê hương, gia đình mình thì tránh gây thù chuốc oán)

    (25)君,君;臣,臣;父,父;子, 子。
    (25)Quân, quân; thần, thần; phụ, phụ; tử, tử . 
    (Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con-Wikipedia dịch)


    (26)片言可以折獄者,其由也与!
    (26)Phiến ngôn khả dĩ chiết ngục giả, kỳ do dã dư! 
    (
    Nửa lời có thể xử xong vụ kiện, giống như trò Do-Tự điển Hán-Việt)

    1. Nửa. Luận Ngữ 論語 : Phiến ngôn khả dĩ chiết ngục 片言可以折獄 (Nhan Uyên 顏淵) Nửa lời có thể xử xong vụ kiện.


    (27)听訟,吾猶人也。必也,使無訟 乎!
    (27)Thính tụng, ngô do nhân dã. Tất dã, sử vô tụng hồ! 
    (Việc xử kiện phải công bình. Khi xong, không có khiếu kiện!)

    吾猶人也: ngô do nhân dã: là ai cũng như ai

    (28)其身正,不令而行;其身不正, 雖令不從。
    (28)Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh nhi bất tùng. 
    (Bản thân là điều phải, không ra lệnh người cũng nghe; không đúng thì có ra lệnh người cũng không nghe)

    (29)無慾速;無見小利。慾速則不躂 ;見小利則大事不成。
    (29)Vô dục tốc; vô kiến tiểu lơi. Dục tốc tắc bất đạt; kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành . 
    (Không làm nhanh, không ham lợi nhỏ. Làm nhanh dễ hư chuyện; thấy lợi nhỏ mà ham thì không thể làm nên chuyện lớn)

    (30)剛、毅、木訥,近仁。 
    (30)Cương、nghị、mộc nột, cận nhân. 
    (Người nói đâu ra đó, thật thà sẽ dễ gần gũi người khác)

    (31)何以報德㊣以直報怨,以德報德 。
    (31)Hà dĩ báo đức chính dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức . 
    (Hãy lấy lẽ phải để đáp trả lại sự oán thù, dùng nhân đức để đáp lại người hiền)

    (32)工慾善其事,必先利其器。 
    (32)Công dục thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí. 
    (Quan muốn giỏi, phải hiểu rõ tài năng của kẻ dưới cơ mình
    )

    (33)人無遠慮,必有近憂。
    (33)Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu. 
    (Người không biết nhận thức sâu xa, ắt có ngày sẽ gặp phiền phức-âu lo)

    (34)群居終日,言不及義,好行小慧 ;難矣哉!
    (34)Quần cư chung nhật , ngôn bất cập nghĩa, hảo hành tiểu huệ; nan hĩ tai! 
    (Tụ họp nhau cả ngày, nói năng tào lao, làm những điều nhỏ mọn, nguy lắm thay !)

    (35)不以言舉人;不以人廢言。
    (35)Bất dĩ ngôn cử nhân; bất dĩ nhân phế ngôn. 
    (Không nghe lời tốt mà nhận định người tốt, đừng nhận định người xấu chỉ bởi lời nói)

    (36)巧言亂德。小不忍,則亂大謀。
    (36)Xảo ngôn loạn đức. Tiểu bất nhẫn , tắc loạn đại mưu. 
    (Lời giả dối làm rồi loạn tâm thiện. Không nhịn được điều nhỏ nhặt, sẽ làm hư chuyện đại sự)

    (37)過而不改,是謂過矣! 
    (37)Quá nhi bất cải, thị vị quá hĩ!
    (Biết lỗi mà không sửa, đó chính là lỗi!)

    (38)生而知之者,上也;學而知之者 ,佽也;困而學之,又其佽也。困而學,民廝為下矣! 
    (38)Sinh nhi tri chi giả, thượng dã; học nhi tri chi giả, thứ dã ;Khốn nhi học chi, hựu kỳ thứ dã. Khốn nhi bất học, dân tư vi hạ hĩ! 
    (Sinh ra mà đã biết, là bậc tiên; học rồi mới biết, là bậc thứ; gặp cảnh khốn nạn rồi mới chịu học, lại còn thấp hơn nữa. Thấp nhất là gặp cảnh khốn nạn rồi mà vẫn không chịu học)

    (39)見得思義。
    (39)Kiến đắc tư nghĩa. 
    (Chỉ biết điều phải. 
    士 見 危 致 命 , 見 得 思 義 : Trong Luận ngữ có nguyên một câu như trên dịch ra là "kẻ sĩ thấy nguy hiểm lao vào cứu mạng chỉ nghĩ tới điều nghĩa chứ không tới nghĩ tới điều lợi"-ST )

    (40)性相近也,習相遠也。 
    (40)Tính tương cận dã, tập tương viễn dã. 
    (Tương đương câu tục ngữ "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng")

    (41)唯上知与下愚,不移。 
    (41)Duy thượng tri dữ hạ ngu, bất di. 
    (Khó thay đổi ý kiến của người có tầm hiểu biết rộng hoặc kẻ ngu đần)

    (42)恭、寬、信、敏、惠:恭則不侮 ,寬則得眾,信則人任焉,敏則有功惠則足以使人。 
    (42)Cung、khoan、tín、mẫn、huệ :cung tắc bất vũ , khoan tắc đắc chúng , tín tắc nhân nhậm yên , mẫn tắc hữu công , huệ tắc túc dĩ sử nhân. 
    (Kính kẻ trên, nhường nhịn, lòng chân thành, sáng suốt, nhân ái :Không khinh mạn kẻ trên
    , nhường nhịn thì được lòng người, lòng thành thì người ta tin cậy được, sáng suốt đem đến kết quả tồt, lòng nhân ái mua chuộc được nhân tâm" 

    (43)色厲而內荏,譬諸小人,其猶穿 窬之盜也与! 
    (43)Sắc lệ nhi nội nhẫm, thí chư tiểu nhân, kì do xuyên du chi đạo dã dư! 
    (
    Những kẻ ngoài mặt oai lệ mà trong lòng nhu nhược, thì ta coi là hạng tiểu nhân, họ có khác nào bọn trộm trèo tường khoét vách đâu ?-Tự điển Hán Việt)

    (44)道听而塗說,德之棄也! 
    (44)Đạo thính nhi đồ thuyết, đức chi khí dã!
    (Nghe lời đạo nghĩa vô căn cứ, đánh mất đạo đức! 
    -Có nhiều nguồn dịch khác nhau, mỗi người hiểu khác một ít! Tớ nghĩ câu này có ý là "không nên tin lời tốt từ cửa miệng, phải biết suy xét ...") 

    (45)飽食終日,無所用心,難矣哉! 不有博弈者乎㊣為之猶賢乎已!
    (45)Bão thực chung nhật, vô sở dụng tâm, nan hĩ tai ! bất hữu bác dịch giả hồ chính vi chi do hiền hồ dĩ! 
    (
    No cơm rửng mỡ chẳng có gì để làm. So với giới cờ bạc, họ còn tệ hơn nữa, vì ít ra giới cờ bạc cũng có việc để làm. -Wikibooks)


    (46)年四十而見惡焉,其終也已! 
    (46)Niên tứ thập nhi kiến ác yên, kỳ chung dã dĩ!
    (Phàm người ta sống đến Bốn mươi tuổi đã chứng kiến nhiều điều xấu xa, coi cái chết nhẹ như không!
    Chú thích: Người xưa tuổi thọ kém hơn ngày nay. Sống đến 40 đã là đủ, 60 là thọ lắm rồi!)

    (47)德不孤,必有鄰。
    (47)Đức bất cô, tất hữu lân . 
    (Người có đức thì không lẻ loi, tất có bạn cũng trọng đạo đức như mình-wiktionary)

    (48)知之者不如好之者,好之者不如 樂之者。
    (48)Tri chi giả bất như hiếu chi giả, hiếu chi giả bất như lạc chi giả. 
    (Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học. (Gs. Minh Chi dịch)

    (49)不怨天,不尤人,下學而上躂。
    (49)Bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt .
    (Không oán trời, không trách đất, phàm làm người nên hiểu số mệnh).

    => Câu nói của Khổng Tử mà học trò ông ghi lại trong Luận ngữ như sau:

    “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ" 

    Nghĩa là: "Ta mười lăm tuổi để hết tâm trí vào việc học, ba mươi tuổi tự lập thân, bốn mươi tuổi không nghi hoặc điều gì, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi nghe lời người là hiểu được, bẩy mươi tuổi muốn điều gì là tùy tâm mình mà không vượt ra khuôn phép, quy củ". 

    Có thể nói, tiểu sử trên là mô hình lý tưởng về sự thành đạt của con người. Ngày nay, người ta thường viện dẫn câu nói trên để nói về mục tiêu, kết quả tu dưỡng, phát triển của con người gắn với từng giai đoạn như sau: 

    "Thập hữu ngũ nhi chí vu học" ( ? ) - nghĩa là 15 tuổi thì để hết tâm trí vào việc học; nói cách khác, thiếu thời cần tập trung vào việc tu dưỡng, xác định chí hướng và tích lũy kiến thức. 

    "Tam thập nhi lập" (三十而立) - 30 tuổi lập thân, lập nghiệp - đã trụ vững, có nghề nghiệp, việc làm, có khả năng nuôi sống bản thân và gia đình, đã xác định vị trí của mình trong xã hội. 

    "Tứ thập nhi bất hoặc" (四十而不惑) - 40 tuổi không còn mê hoặc, đến tuổi này thì đã chín chắn, lịch duyệt; có kiến thức và kinh nghiệm phong phú, nên đối với những việc diễn ra trong xã hội có chính kiến rõ ràng, kiên định, không còn nghi ngờ (bất hoặc). 

    "Ngũ thập nhi tri thiên mệnh" (五十而知天命) - 50 tuổi thì biết rõ sứ mệnh của mình; đã nắm vững quy luật tự nhiên và xã hội, biết được xu thế của thời cuộc, nên công việc thường thuận lợi và dễ dàng đi đến thành công. 

    "Lục thập nhi nhĩ thuận" (六十而耳順) - 60 tuổi thì không còn chướng tai gai mắt; do lý giải đúng căn nguyên của mọi việc diễn ra xung quanh và thấu hiểu nhân tình thế thái, nên dễ thông cảm và có thái độ khoan dung hơn - nhìn sự việc không còn thấy chướng tai gai mắt (thuận nhĩ); không như tuổi trẻ hiểu biết còn nông cạn, nên trước nhiều sự việc thường cảm thấy khó chịu, bực mình. 

    "Thất thập nhi tòng tâm dục, bất du cửu" (七十而從心欲,不踰矩) - Tới tuổi 70, cổ lai hy thì đạt đến cảnh giới đắc đạo tâm tính và đạo đã hợp nhất, mọi thứ đã thành bản năng nên nghĩ gì hay làm gì cũng đều hợp đạo, chẳng vi phạm phép tắc (bất du cửu = không vượt ra ngoài quy tắc). 

    (ST)


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Mai @ 13:30 29/08/2017
    Số lượt xem: 144
    Số lượt thích: 1 người (Trần Nam)
    Avatar

     

     

     

     

    饮水思源, 缘木思本
    yín shuǐ sī yuán, yuán mù sī běn 

    ẨM THUỶ TƯ NGUYÊN, DUYÊN MỘC TƯ BỔN
    Uống nước nhớ nguồn, leo cây nhớ gốc. Được sung sướng, trưởng thành, phải nhớ đến người giúp mình, gầy dựng cho mình, phải đền ơn đáp nghĩa. Uống nước nhớ nguồn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    萍水相逢 
    píng shuǐ xiàng féng 
    BÌNH THUỶ TƯƠNG PHÙNG
    Bèo nước gặp nhau; gặp gỡ tình cờ 

    干什么说什么, 买什么吆喝什么 
    gān shén me shuō shén me, mǎi shén me yāo he shén me
    CÁN THẬP MA THUYẾT THẬP MA, MÃI THẬP MA YÊU HÁT THẬP MA
    Làm cái gì thì bàn luận về cái đó, bán gì thì rao to thứ đó; làm nghề gì thì hãy nhắc đến, bàn luận về nghề đó. 

    众口难调 
    zhòng kǒu nán tiáo 
    CHÚNG KHẨU NAN ĐIỀU 
    (1) Khó mà thống nhất ý kiến được (vì quá đông, quá nhiều ý kiến). (2) Không thể làm vừa lòng tất cả. Làm dâu trăm họ. Lắm thầy nhiều ma.

    只有千日做贼, 没有千日防贼 
    zhí yǒu qiān rì zuò zéi,   méi yǒu qiān rì fáng zéi 
    CHỈ HỮU HIÊN NHẬT TỐ TẶC, MỘT HỮU THIÊN NHẬT PHÒNG TẶC
    Chỉ có ngày ngày làm giặc, khó bề ngàn ngày phòng giặc. Khó đề phòng chu đáo đối với những kẻ xấu.

    多年的路走成河, 多年的媳妇熬成婆 
    duō nián de lù zǒu chéng hé, duō nián de xí fù áo chéng pó 
    ĐA NIÊN ĐÍCH LỘ TẨU THÀNH HÀ, ĐA NIÊN ĐÍCH TỨC PHỤ NGAO THÀNH BÀ
    Con đường do người đi nhiều, lâu làm cho mòn đi có thể thành sông, người con dâu sống lâu năm, được rèn luyện nhiều rồi cũng thành mẹ chồng. Sống lâu lên lão làng. 

    桃红柳绿 
    táo hóng liǔ lǜ
    ĐÀO HỒNG LIỄU LỤC
    Cảnh sắc mùa xuân rất đẹp.

    桃李不言, 下自成蹊 
    táo lǐ bù yán, xià zì chéng qī 
    ĐÀO LÍ BẤT NGÔN, HẠ TỰ THÀNH KHÊ
    Đào mận không biết tự khoe mình, nhưng nếu nhiều người đến hái thì tự nhiên sẽ thành đường đi dưới gốc cây; chân thành, trung thực thì có thể rung động được người khác; hữu xạ tự nhiên hương.

    同仇敌忾 
    tóng chóu dí kài 
    ĐỒNG THÙ ĐỊCH KHÁI 
    Cùng chung mối thù

    雕虫小技 
    diāo chóng xiǎo jì
    ĐIÊU TRÙNG TIỂU KĨ
    Tài chỉ đủ vẽ được con giun -> tài cán nhỏ mọn.

    铤而走险 
    dìng ér zǒu xiǎn
    ĐĨNH NHI TẨU HIỂM
    Bí quá làm liều

    豆腐多了一包水, 空话多了无人信 
    dòu fu duō le yì bāo shuǐ,   kōng huà duō liǎo wú rén xìn 
    ĐẬU HỦ ĐA LIỄU NHẤT BAO THUỶ, KHÔNG THOẠI ĐA LIỄU VÔ NHÂN TIN
    Đậu phụ để lâu thì rữa, lời nói suông nhiều chẳng ai tin. Giống như đậu phụ để lâu thì thối rữa, lời lẽ trống rống càng nói càng không ai nghe.

    嫁出去的女儿, 泼出去的水 
    jià chū qu de nǚ ér, pō chū qu de shuǐ 
    GIÁ XUẤT KHỨ ĐÍCH NỮ NHI, BÁT XUẤT KHỨ ĐÍCH THUỶ
    Gả con gái đi lấy chồng như bát nước hắt đi (vì từ nay không phải con nhà mình nữa).(Con gái) lúc bé thì ở với cha mẹ, chết thì làm ma quê chồng.

    家家买酸酒, 不犯是高手 
    jiā jiā mǎi suān jiǔ,  bú fàn shì gāo shǒu 
    GIA GIA MẠI TOAN TỬU, BẤT PHẠM THỊ CAO THỦ.
    Nhà nhà bán rượu chua, không bị phát hiện mới là giỏi "Giỏi" ở đây ngụ ý : chê trách thủ đoạn gian trá, lừa đảo một cách khôn khéo.

    好佛凑一堂, 鸳鸯凑一双 
    hǎo fó còu yì táng, yuān yāng còu yì shuāng 
    HẢO PHẬT TẤU NHẤT ĐƯỜNG, UYÊN ƯƠNG TẤU NHẤT SONG.
    Tượng phật đẹp nhờ đặt ở gian chính, uyên ương đẹp nhờ hợp từng cặp, từng đôi. Những người tài giỏi nên hợp sức với nhau.

    行善得善, 行恶得恶 
    xíng shàn dé shàn,  xíng è dé è 
    HÀNH THIỆN ĐẮC THIỆN, HÀNH ÁC ĐẮC ÁC
    Làm việc thiện được thiện, làm điều ác bị quả báo. Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo.

    黄鼠狼给鸡拜年, 没安好心 
    huáng shǔ láng gěi jī bài nián, méi ān hǎo xīn 
    HOÀNG THỬ LANG CẤP KÊ BÁI NIÊN,MỘT AN HẢO TÂM.
    Chồn cáo chúc tết gà, rắp tâm ăn gỏi. Gỉa bộ thân thiện nhằm thực hiện mưu đồ xấu.

    浑水越澄越清, 是非越辩越明 
    hún shuǐ yuè chéng yuè qīng,  shì fēi yuè biàn yuè míng
    HỖN THUỶ VIỆT TRỪNG VIỆT THANH, THỊ PHI VIỆT BIỆN VIỆT MINH
    Nước đục càng lắng càng trong, phải trái càng tranh luận càng rõ. 

    胸有成竹 
    xiōng yǒu chéng zhú
    HUNG HỮU THÀNH TRÚC 
    Có hoạ sĩ đời Tống trước khi đặt bút vẽ cây trúc, đã phác thảo sẵn trong đầu; Định liệu trước. Chủ động.

    虚心竹有低头叶 
    xū xīn zhú yǒu dī tóu yè
    HƯ TÂM TRÚC HỮU ĐÊ ĐẦU DIỆP
    Trúc rỗng ruột có lá rủ đầu. Người nên khiêm nhường .

    有志不在年高, 无志空活百岁
    yǒu zhì bú zài nián gāo, wú zhì kōng huó bǎi suì 
    HỮU CHÍ BẤT TẠI NIÊN CAO, VÔ CHÍ KHÔNG HOẠT BÁCH TUẾ
    Có chí chẳng do tuổi tác, không có chí thì trăm tuổi cũng tay không. Người có chí thì cuối cùng sự nghiệp sẽ thành công.

    有猫不知猫功劳, 无猫才知老鼠多 
    yǒu māo bù zhī māo gōng láo, wú māo cái zhī láo shǔ duō 
    HỮU MIÊU BẤT TRI MIÊU CÔNG LAO, VÔ MIÊU TÀI TRI LÃO THỬ ĐA
    Có mèo không biết công của mèo, không có mèo mới biết nhà lắm chuột. Không biết đánh giá công sức, tác dụng của người khác.

    靠山好烧柴, 靠水好吃鱼 
    kào shān hǎo shāo chái, kào shuǐ hǎo chī yú 
    KHÁO SƠN HẢO THIÊU SÀI, CẬN THUỶ HẢO NGẬT NGƯ
    Ở núi nhiều củi đốt, gần nước lắm cá ăn. Được hưởng điều kiện đặc biệt thuận lợi của môi trường sinh sống.

    见官三分灾 
    jiàn guān sān fēn zāi 
    KIẾN QUAN TAM PHÂN TAI 
    Gặp quan là gặp tai hoạ. Thời trước người dân gặp quan coi như gặp tai hoạ.
    Thua kiện mất quan hai, được kiện mười hai quan chẵn. 

    可放手时续放手, 得饶人时且饶人 
    kě fàng shǒu shí xù fàng shǒu, dé ráo rén shí qiě ráo rén 
    KHẢ PHÓNG THỦ THỜI TỤC PHÓNG THỦ, ĐẮC NHIÊU NHÂN THỜI THẢ NHIÊU NHÂN.
    Lúc nào cần phải ngừng tay thì nên ngừng tay, khi nào thấy tha thứ được cho người khác thì nên tha thứ. Nể tình nương tay.

    锲而不舍 
    qiè ér bù shě
    KHIẾT NHI BẤT XẢ
    Kiên trì làm đến cùng. Đã chạm phải chạm cho trót. Đã vót cho trơn. 

    轻描淡写 
    qīng miáo dàn xiě
    KHINH MIÊU ĐẠM TẢ
    Khi vẽ pha màu nhạt lại vẽ không đậm nét; qua loa chiếu lệ. Xuê xoà cho xong chuyện.

    骑驴看唱本,走着瞧 
    qí lǘ kàn chàng běn,  zǒu zhe qiáo 
    KỊ LƯ KHÁN XƯỚNG BẢN, TẨU TRƯỚC TIÊU
    Cưỡi lừa xem hát, nhẩn nha mà xem. Cứ để xem diễn biến thế nào, rồi mới đưa ra kết luận. 

    老子偷瓜盗果, 儿子杀人防火 
    lǎo zi tōu guā dào guǒ, ér zi shā rén fáng huǒ 
    LÃO TỬ THÂU QUA ĐẢO QUẢ, NHI TỬ SÁT NHÂN PHÓNG HOẢ
    Bố mà trộm cắp, thì con giết người. Người cha có hành động xấu xa, thì con cái sẽ bắt chước cha và phạm tội nặng hơn. Rau nào sâu ấy. 

    礼在人情在 
    lǐ zài rén qíng zài 
    LỄ TẠI NHÂN TÌNH TẠI
    Có lễ vật qua lại thì tình nghĩa sẽ còn. Còn bạc còn tiền còn đề tử. 

    劣汉争吃, 好汉争气 
    liè hàn zhēng chī hǎo hàn zhēng qì 
    LIỆT HÁN TRANH THỰC, HẢO HÁN TRANH KHÍ
    Kém cỏi tranh ăn, tài giỏi tranh tài. Người ta không thể chỉ vì miếng ăn, mà còn phải cố tạo nên cho mình một chỗ đứng đáng kể trong xã hội.

    龙交龙, 凤交风, 老鼠的朋友会打洞 
    lóng jiāo lóng, fèng jiāo fēng, láo shǔ de péng you huì dǎ dòng
    LONG GIAO LONG, PHƯỢNG GIAO PHƯỢNG, LÃO THỮ ĐÍCH BẰNG HỮU HỘI ĐẢ ĐỘNG
    Rồng bay với rồng, phượng múa với phượng, bạn của chuột biết đào ngạch. Người thế nào thì kết giao với loại người thế ấy. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. 

    量材录用 
    liàng cái lù yòng
    LƯỢNG TÀI LỤC DỤNG
    Bố trí công việc đúng khả năng.

    马老无人骑, 人老就受欺 
    mǎ lǎo wú rén qí,  rén lǎo jiù shòu qī 
    MÃ LÃO VÔ NHÂN KỊ, NHÂN LÃO TỰU THỤ KHI
    Ngựa già chẳng ai buồn cưỡi, người già bị lắm kẻ khinh.

    猫哭老鼠假慈悲 
    māo kū láo shǔ jiǎ cí bēi
    MÈO KHÓC CHUỘT, GIẢ TỪ BI.
    Tâm địa độc ác, giả bộ từ bi. Nước mắt cá sấu

    眉来眼去 
    méi lái yǎn qù
    MI LAI NHÃN KHỨ
    Mày lại mắt đi. Nghĩa: lấy mắt mày để tỏ ý ngầm với nhau.Trai gái dùng mắt đưa tình.

    男子痴, 一时迷, 女子痴, 没药医 
    nán zǐ chī, yì shí mí, nǘ zǐ chī, mò yào yī 
    NAM TỬ SI, NHẤT THỜI MÊ, NỮ TỬ SI, MỘT DƯỢC Y
    Nam si tình chóng qua đi; nữ si tình hết thuốc chữa. Tình cảm yêu đương của nữ giới thường sâu sắc mãnh liệt hơn hẳn nam giới.

    男盗女娼 
    nán dào nǚ chāng 
    NAM ĐẠO NỮ XƯƠNG
    Nam trộm cắp, gái bán điếm; cùng một lũ mèo mả gà đồng. 

    男子三十一枝花, 女子三十老人家 
    nán zǐ sān shí yì zhī huā, nǘ zǐ sān shí lǎo rén jia 
    NAM TỬ TAM THẬP NHẤT CHI HOA, NỮ TỬ TAM THẬP LÃO NHÂN GIA
    Trai ba mươi tuổi (là) một bông hoa, gái ba mươi tuổi, một bà già. Trai ba mươi chính là thời kỳ tài hoa phát triển cao độ, còn nữ tuổi ba mươi gần như đã bước vào tuổi trung niên. 
    Câu ca dao Việt Nam: Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái ba mươi tuổi đã toan về già. 

    男无酒如旗无风 
    nán wú jiǔ rú qí wú fēng 
    NAM VÔ TỬU NHƯ KÌ VÔ PHONG
    Đàn ông không uống rượu thì thiếu sắc khí, vẻ linh lợi (như cờ rụt xuống không có gió)

    一日为师,终身为父 
    yí rì wéi shī, zhōng shēn wéi fù
    NHẤT NHẬT VI SƯ, CHUNG THÂN VI PHỤ
    Một ngày làm thầy, suốt đời là cha. Học ai dù chỉ một ngày, cũng phải tôn kính người ấy như cha suốt đời.

    一个香炉一个磬, 一个人一个性 
    yí gè xiāng lú yí gè qìng, yí gè rén yí gè xìng 
    NHẤT CÁ HƯƠNG LÔ NHẤT CÁ KHÁNH, NHẤT CÁ NHÂN NHẤT CÁ TÍNH
    Mỗi bát nhang một cái khánh, mỗi người một cá tính. Tính nết mỗi người một khác, giống như ở đình chùa cái bát nhang khác với cái khánh vậy. Chín người mười tính. 

    人非草木, 岂能无情 
    rén fēi cǎo mù, qǐ néng wú qíng 
    NHÂN PHI THẢO MỘC, KHỞI NĂNG VÔ TÌNH
    Người không phải cỏ cây, há lại vô tình. Con người nhất thiết phải có tình cảm.

    人凭志气虎凭威 
    rén píng zhì qì hǔ píng wēi 
    NHÂN BẰNG CHÍ KHÍ HỔ BẰNG UY
    Con người dựa vào chí khí, con hổ dựa vào uy phong.

    人生何处不相逢 
    rén shēng hé chù bù xiāng féng 
    NHÂN SINH HÀ XỨ BẤT TƯƠNG PHÙNG
    Trong đời, thiếu gì nơi có thể gặp nhau. Có thể sẽ còn gặp lại nhau, vậy hãy giữ cho quan hệ được tốt đẹp, thân thiện.

    人在矮檐下, 怎敢不低头 
    rén zài ǎi yán xià,  zěn gǎn bù dī tóu 
    NHÂN TẠI OẢI THIỀM HẠ, CHẨM CẢM BẤT ĐÊ ĐẦU
    Đứng dưới mái nhà thấp thì làm sao có thể ngẩng đầu lên được;dưới quyền của kẻ khác thì phải dằm lòng cam chịu. Há miệng mắc quai.

    人直不富, 港直不深 
    rén zhí bú fù, gǎng zhí bù shēn 
    NHÂN TRỰC BẤT PHÚ, CẢNG TRỰC BẤT THÂM
    Người thẳng chẳng giàu, cảng thẳng chẳng sâu. Người thẳng thắn.

    人无横财不富, 马无夜草不肥 
    rén wú hèng cái bú fù, mǎ wú yè cǎo bù féi 
    NHÂN VÔ HOẠNH TÀI BẤT PHÚ, MÃ VÔ DẠ THẢO BẤT PHÌ.
    Người không tiền bất nghĩa chẳng giàu, ngựa không cỏ ăn đêm chẳng béo. Sự giàu có của kẻ bóc lột là nhờ đồng tiền bất nghĩa tạo nên.

    人爱富的, 狗咬贫的 
    rén ài fù de, gǒu yǎo pín de 
    NHÂN ÁI PHÚ ĐÍCH, CẨU GIẢO CÙNG ĐÍCH 
    Người yêu kẻ giàu, chó cắn kẻ nghèo. Người giàu được kính yêu, người nghèo bị khinh rẻ. 

    人到矮檐下, 怎能不低头 
    rén dào ǎi yán xià,  zěn néng bù dī tóu 
    NHÂN ĐÁO OẢI THIỀM HẠ, CHẨM NĂNG BẤT ĐÊ ĐẦU
    Bước qua mái hiên thấp, sao không phải cúi đầu. Bất đắc dĩ phải khuất phụ hoàn cảnh. 

    人越丑越爱戴花 
    rén yuè chǒu yuè ài dài huā
    NHÂN VIỆT XÚ VIỆT ÁI ĐỚI HOA
    Người càng xấu càng thích cài hoa. Ai cũng muốn che giấu khuyết điểm của mình. 

    日出万言, 必有一伤 
    rì chū wàn yán, bì yǒu yì shāng 
    NHẬT XUẤT VẠN NGÔN, TẤT HỮU NHẤT THƯƠNG
    Ngày nói vạn lời, ắt có câu khiến người tổn thương. Chớ nên nhiều lời. 

    儿行千里母担忧, 母行千里儿不愁 
    ér xíng qiān lǐ mǔ dān yōu, mǔ xíng qiān lǐ ér bù chóu 
    NHI HÀNH THIÊN LÝ MẪU ĐẢM ƯU, MẪU HÀNH THIÊN LÝ NHI BẤT SẦU 
    Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu. Tình mẹ lo lắng cho con cái hơn hẳn con cái lo cho mẹ.

    儿子是自己的好, 老婆是别人的好 
    ér zi shì zì jǐ de hǎo,  lǎo po shì bié rén de hǎo 
    NHI TỬ THỊ TỰ KỶ HẢO, LÃO BÀ THỊ BIỆT NHÂN ĐÍCH HẢO 
    Con mình thì hay, vợ người thì đẹp. Một trạng thái tâm lý của người đời, bao giờ cũng thấy con mình là hay và thích vợ người khác. Văn mình vợ người. 

    任凭风浪起, 稳坐钓鱼船 
    rèn píng fēng làng qǐ, wěn zuò diào yú chuán 
    NHIỆM BẰNG PHONG LÃNG KHỞI, ỔN TOẠ ĐIẾU NGƯ THUYỀN. 
    Bất kể sống to gió lớn như thế nào vẫn ung dung ngồi câu cá; Không dao động trước khó khăn nguy hiểm. 

    弱肉强食, 适者生存 
    ruò ròu qiáng shí, shì zhě shēng cún 
    NHƯỢC NHỤC CƯỜNG THỰC, THÍCH GIẢ SINH TỒN 
    Yếu làm mồi ăn cho kẻ mạnh, kẻ muốn sống tồn phải trải qua sự chiến thắng kẻ thù địch. Cá lớn nuốt cá bé.

    瓦罐不离井上破, 将军难免阵中亡 
    wǎ guàn bù lí jǐng shàng pò, jiāng jūn nán miǎn zhèn zhōng wáng 
    NGOÃ QUÁN BẤT LY TỈNH THƯỢNG PHÁ, TƯỚNG QUÂN NAN MIỄN TRẬN TRUNG VONG
    Chậu sành sẽ va vào thành giếng mà vỡ, tướng quân khó tránh bị tử trận. Thường xuyên hoạt động ở nơi nguy hiểm thì khó tránh khỏi tai nạn.

    言必信, 行必果 
    yán bì xìn, xíng bì guǒ 
    NGÔN TẤT TÍN, HÀNH TẤT QUẢ
    Lời nói phải được tin, hành động phải có kết quả, nói phải suy nghĩ cân nhắc, hành động phải kiên quyết 

    言轻休劝架, 力小休拉架 
    yán qīng xiū quàn jià,  lì xiǎo xiū lā jià 
    NGÔN KHINH HƯU KHUYẾN NHÂN, LỰC TIỂU HƯU LẠP GIÁ.
    Lời nói không có sức nặng và sức lực yếu kém thì đừng khuyên can người khác, không nên ôm lấy những việc không làm nổi.

    念完了经打和尚 
    niàn wán liǎo jīng dǎ hé shang
    NIỆM HOÀNG LIỄU KINH ĐẢ HOÀ THƯỢNG
    Tụng hết kinh, đánh thầy tu. Vô ơn bạc nghĩa, lấy oán trả ơn. Khỏi rên quên thầy. Xong chay, quẳng thầy xuống ao.

    逆水行舟 
    nì shuǐ xíng zhōu
    NGHỊCH THUỶ HÀNH CHÂU
    Chèo thuyền ngược nước. Bơi ngược dòng.

    凡事留一线, 日后好相见 
    fán shì liú yí xiàn, rì hòu hǎo xiāng jiàn 
    PHÀM SỰ LƯU NHẤT TUYẾN, NHẬT HẬU HẢO TƯƠNG KIẾN
    Xử sự có tình, mai sau gặp lại còn vui 
    Ai ơi xử sự lưu tình. Mai ngày gặp lại còn mình với ta

    风声鹤唳 
    fēng shēng hè lì 
    PHONG THANH HẠC LỆ 
    Tiếng gió thổi, tiếng hạc kêu, tự kỉ ám thị.

    夫妻本是同林鸟, 大难临头各自飞 
    fū qī běn shì tóng lín niǎo, dà nàn lín tóu gè zì fēi 
    PHU THÊ BẢN THỊ ĐỒNG LÂM ĐIỂU, ĐẠI NẠN LÂM ĐẦU CÁC TỰ PHI
    Vợ chồng vốn như chim ở chung một rừng, đại hoạ đến mỗi người tự bay đi. Vợ chồng vốn thân thiết, nhưng đến khi gặp đại hoạ tức là chết, thì tự mình lo chống chọi với cái chết. Chữ "nạn" có khi được thay bằng chữ "hạn". 

    佛烧一柱香, 人争一口气 
    fó shāo yí zhù xiāng, rén zhēng yì kǒu qì 
    PHẬT THIÊU NHẤT TRỤ HƯƠNG, NHÂN TRANH NHẤT KHẨU KHÍ 
    Phật không chịu để người ta chỉ thắp một nén hương; người phải tranh khẩu khí. Người phải có chí vươn lên để không thua kém người khác. 

    丰年莫忘歉年苦, 饱时莫忘饥时难 
    fēng nián mò wàng qiàn nián kǔ, bǎo shí mò wàng jī shí nán 
    PHONG NIÊN MẠC VONG KHIỂM NIÊN KHỔ, BÃO THỜI MẠC VONG CƠ THỜI NAN.
    Năm đầu được mùa đừng quên năm sau thất bát, khi no đủ thì đừng quên lúc cơ hàn. Giàu sang nhớ lúc cơ hàn.

    瓜到熟时蒂自落 
    guā dào shú shí dì zì luò 
    QUA ĐÁO THỤC THỜI ĐẾ TỰ LẠC
    Dưa đến lúc chín, cuống tự rụng. Điều kiện chín muồi, thời cơ đã đến. 

    官大一级压死人 
    guān dà yī jí yā sǐ rén
    QUAN ĐẠI NHẤT CẤP ÁP TỬ NHÂN
    Quan hơn một cấp ép chết người. Dùng mệnh lệnh hành chính cưỡng bức người dưới phải thi hành. 

    君子报仇, 十年不晚 
    jūn zǐ bào chóu, shí nián bù wǎn
    QUÂN TỬ BÁO THÙ, THẬP NIÊN BẤT VÃN
    Đối với người quân tử, mười năm mới trả được mối thù cũng không có gì là muộn cả. 

    贵人抬眼看, 便是福星临 
    guì rén tái yǎn kàn, biàn shì fú xīng lín 
    QUÝ NHÂN ĐÀI NHÃN KHÁN, TIỆN THỊ PHÚC TINH LÂM 
    Quý nhân để mắt tới là dịp phúc tinh chiếu rọi. 

    贵人多忘事 
    guì rén duō wàng shì 
    QUÝ NHÂN ĐA VONG SỰ 
    Quý nhân thường quên sự việc. Thường dùng để châm biếm, chế giễu người hay quên.

    山雨欲来风满楼 
    shān yǔ yù lái fēng mǎn lóu
    SƠN VŨ DỤC LAI PHONG MÃN LẦU 
    Cơn giông trước lúc mưa nguồn. Trước khi xảy ra sự việc lớn thường có những biến cố báo hiệu bất thường.

    山山有老虎, 处处有强人 
    shān shān yǒu láo hǔ,  chù chù yǒu qiáng rén 
    SƠN SƠN HỮU LÃO HỔ, XỨ XỨ HỮU CƯỜNG NHÂN.
    Núi nào cũng có hổ, vùng nào cũng có nhân tài.

    山不在高有仙则名 
    shān bú zài gāo yǒu xiān zé míng
    SƠN BẤT TẠI CAO HỮU TIÊN TẮC DANH.
    Núi không cứ ở chỗ cao, có tiên ở tất có danh. Nghĩa: nhà không cứ gì đẹp, nước không cứ phải lớn, có người chủ tốt ắt là có tiếng. Chùa đất Phật vàng. Câu trên còn có vế sâu: "Thuỷ bất tại thâm hữu long tắc linh “水不在深有龙则灵” Nước không cứ gì sâu có rồng ở tất thiêng. Cũng một ý nghĩ đó. 

    士可杀而不可辱 
    shì kě shā ér bù kě rǔ
    SĨ KHẢ SÁT NHI BẤT KHẢ NHỤC
    Người có khí tiết thà chết không chịu nhục. Thà chết vinh hơn sống nhục.

    事在人为 
    shì zài rén wéi
    SỰ TẠI NHÂN VI 
    Yếu tố chủ quan của con người đóng vai trò quyết định. Mưn sự tại nhân là vậy.

    细水长流 
    xì shuǐ cháng liú
    TẾ THUỶ TRƯỜNG LƯU
    Nước chảy nhỏ thì chảy dài: (1) Biết cách sử dụng tiết kiệm thì không bao giờ thiếu. (2) Đều đều, từng ít một, không ngừng.

    他方求食 
    tā fāng qiú shí 
    THA PHƯƠNG CẦU THỰC
    Đi phương khác để kiếm ăn

    亲戚是把锯, 你有来, 我有去 
    qīn qi shì bǎ jù, nǐ yǒu lái, wǒ yǒu qù 
    THÂN THÍCH THỊ BẢ CỨ, NHĨ HỮU LAI, NGÃ HỮU KHỨ
    Họ hàng là cái cưa, người kéo qua, ta kéo lại. Quan hệ họ hàng như kéo cưa, bên này tới thăm bên kia, bên kia ắt phải đáp lễ. 

    十个梅子九个酸, 十个官儿九个贪 
    shí gè méi zǐ jiǔ gè suān,  shí gè guān ér jiǔ gè tān 
    THẬP CÁ MAI TỬ THẬP CÁ TOAN, THẬP CÁ QUAN NHI CỬU CÁ THAM
    Mười trái mơ, chín trái chua; mười vị quan, chín vị tham. Hiếm có vị quan nào không tham tiền.

    十年树木, 百年树人 
    shí nián shù mù, bǎi nián shù rén 
    THẬP NIÊN THỤ MỘC, BÁCH NIÊN THỤ HÂN
    (Vì lợi ích) mười năm trồng cây, trăm năm trồng người .

    屎壳郎喷嚏, 满嘴喷粪 
    shǐ ké láng pēn tì,  mǎn zuǐ pēn fèn 
    THỈ XÁC LANG PHÚN ĐẾ, MÃN CHUỶ PHÚN PHẤN
    Bọ hung hắt hơi, phun ra toàn cức. Châm biếm kẻ nói năng bậy bạ, không ngửi được. 

    时到天亮方好睡, 人到来才学乖 
    shí dào tiān liàng fāng hǎo shuì,  rén dào lái cái xué guāi 
    THỜI ĐÁO THIÊN LƯỢNG PHƯƠNG HẢO THUỴ, NHÂN ĐÁO LÁO LAI TÀI HỌC QUAI 
    Ngủ đến sáng bạch mới là ngon giấc. Người đến tuổi già mới thấu sự đời. Người sống càng nhiều tuổi càng hiểu rõ nhân tình thế thái.

    是福不是祸, 是祸躲不过 
    shì fú bú shì huò, shì huò duǒ bú guò 
    THỊ PHÚC BẤT THỊ HOẠ, THỊ HOẠ ĐOÁ BẤT QUÁ
    Là phúc không phải hoạ, là hoạ tránh chẳng qua. Hoạ phúc khó lường, hết bề né tranh tai hoạ.

    天作孽犹可违, 自作孽不可逭 
    tiān zuò niè yóu kě wéi, zì zuò niè bù kě huàn 
    THIÊN TÁC NGHIỆT DO KHẢ VI, TỰ TÁC NGHIỆT BẤT KHẢ HOÁN
    Trời gây hoạ còn có thể tránh, tự gây tội chẳng thể trốn. Có thể tránh né thiên tai, còn tội lỗi do mình gây ra thì không thể trốn tránh trách nhiệm. 

    天无三日雨, 人没一世穷 
    tiān wú sān rì yǔ, rén méi yí shì qióng 
    THIÊN VÔ TAM NHẬT VŨ, NHÂN VÔ NHẤT THẾ CÙNG.
    Trời không mưa liền ba ngày, người không nghèo khổ suốt đời .

    天有不测风云, 人有旦夕祸福 
    tiān yǒu bú cè fēng yún, rén yǒu dàn xī huò fú 
    THIÊN HỮU BẤT TRẮC PHONG VÂN, NHÂN HỮU ĐÁN TỊCH HOẠ PHÚC.
    Trời có mưa gió khó đoán, người có hoạ phúc sớm chiều. Hoạ phúc của con người xảy đến nhanh chóng và bất ngờ khó đoán. 
    Trời mưa trời gió khó đoán, kẻ may người rủi chuyện thường ai hay.

    识时务者为俊杰 
    shí shí wù zhě wéi jùn jié 
    THỨC THỜI VỤ GIẢ VI TUẤN KIỆT
    Hiểu thời thế mới là người giỏi 

    上贼船易, 下贼船难 
    shàng zéi chuán yì,  xià zéi chuán nán 
    THƯỢNG TẶC THUYỀN DI, HẠ TẶC THUYỀN NAN
    Lên thuyền giặc dễ, rời thuyền giặc khó. Đi theo kẻ xấu thì dễ, rời bỏ chúng thì khó. 

    上司放个屁,下属唱台戏 
    shàng sī fàng gè pì, xià shǔ chàng tái xì 
    THƯỢNG TI PHÓNG CÁ TÍ, HẠ THUỘC XƯỚNG ĐÀI HÍ.
    Quan vừa khẽ ho, lính vội lo thuốc. Cấp trên vừa lên tiếng,thuộc hạ lập tức lo sốt vó thực hiện

    做到老, 学到老 
    zuò dào lǎo, xué dào lǎo 
    TỐ ĐÁO LÃO, HỌC ĐÁO LÃO
    Làm đến già, học đến già. Việc học không có chỗ dừng, người ta phải học suốt đời. 

    中饱私囊 
    zhōng bǎo sī náng
    TRUNG BÃO TƯ NANG
    Kẻ trung gian tham ô tư túi. 

    四海皆兄弟
    sì hǎi jiē xiōng di
    TỨ HẢI GIAI HUYNH ĐỆ 
    Bốn bể đều là anh em. Cả loài người đều là anh em. 

    处女守身, 处士守名 
    chú nǚ shǒu shēn, chǔ shì shǒu míng 
    XỬ NỮ THỦ THÂN, XỬ SĨ THỦ DANH
    Gái chưa chồng giữ mình, kẻ sĩ chưa làm quan giữ danh.

    运筹帷幄 
    yùn chóu wéi wò
    VẬN TRÙ DUY ÁC
    Bày mưu tính kế

    万般皆是命, 半点不由人 
    wàn bān jiē shì mìng, bàn diǎn bù yóu rén 
    VẠN BAN GIAI THỊ MỆNH, BÁN ĐIỂM BẤT DO NHÂN 
    Hết thảy đều do số mệnh, chẳng chút nào do người. Mọi việc đều do số mệnh quyết định. 

    为善最乐 
    wéi shàn zuì lè 
    VI THIỆN TỐI LẠC
    Làm điều thiện là vui nhất.

    Ác giả ác báo, thiện lai thiện báo. 

    善者善报 惡者惡报

    Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo
    ( Làm ác gặp ác, ở hiền gặp lành )

    Sơ khắc phách án kinh kì 初刻拍案驚奇 (Quyển nhị thập nhất): 
    Tích thiện hữu thiện báo, tích ác hữu ác báo
     

    積善有善報, 積惡有惡報


    Anh hùng nan quá mỹ nhân quan.
      

    英雄難
    關 

    (Anh hùng không qua được ải người đẹp)

    An thân, thủ phận. An phận, thủ thường
    (Muốn bình an, thì nên biết khả năng của mình. Muốn giữ bình an thì đừng làm gì quá khả năng của mình)

    半信半疑
    Bàn xìn bàn yí
    Bán tín bán nghi -> Nửa tin nửa ngờ

    Bần cư tại thị vô nhân vấn, Phú tại sơn lâm hữu khách tầm 
    (Nghèo khổ sống nơi đô thị không ai tìm. Giàu có dù sống nơi rừng núi cũng có người tìm tới)

    -> Bần cư náo thị vô nhân vấn, Phú tại thâm sơn hữu khách tầm (Nghèo sống chợ đông không kẻ hỏi, Giàu nơi núi thẳm có người thăm)

    Bất chiến tự nhiên thành
    Không cần đánh cũng thắng. đồng nghĩa với "gặp đúng thời vận "

    知己知彼
    Zhī  jǐ  zhī  bǐ
     
    -> Tri kỷ tri bỉ
    Biết người biết ta 

    Cẩn ngôn vô tội , Cẩn tắc vô ưu
    ( Cẩn thận lời nói thì tránh được tội, cẩn thận trong mọi việc thì không lo lắng về sau)

    改邪归正 
    Gǎi xié guī zhèng
    Cải tà quy chính -> Bỏ tà theo chánh

    敢做敢当
    Gǎn zuò gǎn dāng 
    -> Cảm tố (tác) cảm đương
    Dám làm dám chịu 

    名不虚传
    Míng bù xū chuán
    Danh bất hư truyền -> Tiếng đồn chẳng ngoa

    Danh chính, ngôn thuận, sự tất thành.
    (Việc đúng, nói nghe xuôi tai, việc sẽ trôi chảy)

    Danh bất chính, ngôn bất thuận, sự bất thành.
    (Việc không đúng, nói nghe không lọt lỗ tai, việc sẽ không tới đâu)

    Dục tốc bất đạt
    (Vội vàng để làm điều gì sẽ hư việc)

    Dưỡng hổ di họa 
    ( Nuôi cọp sẽ mang hoạ - không biết nó cắn chết lúc nào vì dù sao vẫn là thú tính ).

    Dự bị hơn phòng bị, phòng bị hơn chuẩn bị. -> tiếng Hán Việt đâu có chữ "hơn"
    (Giống với câu tục ngữ "Đừng nên chờ nước đến chân mới nhảy" trong tiếng Việt)

    Đa tình tự cổ nan di hận -> Đa tình tự cổ không dư hận 

    (Từ xưa đa tình chỉ để lại mối hận)

    大难不死就有后福  

    Dà nàn bù sǐ jiù yǒu hòu fú
    -> đại nạn bất tử tựu hữu hậu phúc
    Đại nạn không chết ắt sẽ có phúc lớn 


    道不同,不相为谋
    Dào bù tóng, bù xiāng wéi móu
    Đạo bất đồng bất tương vi mưu
    ( Không cùng chí hướng, quan niệm thì không thể hợp tác, bàn luận )

    Đạo bất đồng bất tương di ngôn

    Đồng đạo bất đồng lộ
    ( Cùng chí hướng nhưng không cùng chung đường )

    读万卷书, 行万里路
    du wan juan shu ,  xing wan li  lu
    -> độc vạn quyển thư, hành vạn lý lộ
    Đọc một quyển sách bằng đi vạn dặm đường

    经一事长一智
    Jīng yī shì zhǎng yī zhì
    -> 
    kinh nhất sự trường nhất trí
    Đi 1 ngày đàng học 1 sàng khôn

    Địa ngục vô môn, hữu khách tầm
    (Địa ngục không cửa nhưng lại có người tìm đến. Điều xấu xa, tội lỗi thì mọi người lại thích làm)

    Điểu vị thực Vong, Nhân vị lợi Vong 
    (Loài chim vì ăn mà chết, người vì lợi mà cắm đầu vào chỗ chết)

    徐娘半老 
    Xú niáng bàn lǎo
    -> 
    từ nương bán lão 
    Già rồi còn đa tình

    恨鱼剁砧
    Hèn yú duò zhēn
    -> 
    hận ngư đóa châm
    Giận cá chém thớt

    虎毒不吃子 
    Hǔ  dú  bù  chī zi
    -> 
    hổ độc bất cật tử
    Hổ dữ không ăn thịt con

    Hữu xạ tự nhiên hương. 
    (Tài giỏi tự dưng người ta biết đến, như mùi hương tự nó tỏa ra) 

    Hữu danh vô thực 
    (Giống với câu tục ngữ "có tiếng mà không có miếng" trong tiếng Việt. 

    Hoa rơi hữu ý,  nước chảy vô tình -> Lạc hoa hữu ý, lưu thuỷ vô tình
    (Câu này để chỉ hành động cố ý làm rớt vật gì đó như...tiền chẳng hạn hoặc có hành động gì đó trước mặt người mình thích để tạo sự chú ý, nhưng người đó lại vô tình không biết ! Hic hic hic...) 

    Hoạn lộ, Họa lộ . 
    (Đường công danh lại chính là đường tai hoạ) 

    Hữu phận vô duyên -> hữu duyên vô phận?
    (Dành cho đôi lứa có gặp gỡ, có tình yêu mà không đi đến hôn nhân, 
    tương đương với câu "có duyên không phận") 

    Hữu tài vô phận -> Học tài thi phận?
    (có tài mà không làm được gì to tát cả)

    挑肥拣瘦 
    Tiāo féi jiǎn shòu

    -> thiêu phì giản sấu
    Kén cá chọn canh

    铢两悉称
    Zhū liǎng xī chèn
    -> 
    thù lưỡng tất xưng
    Kẻ tám lạng , người nửa cân

    无风不起浪
    Wú fēng bù qǐ làng
    -> 
    vô phong bất khởi lãng
    Không có lửa làm sao có khói.

    不听老人言/ 吃亏在面前
    Bù tīng lǎo rén yán  / chī kuī zài miàn qián
    -> 
    bất thính lão nhân ngôn/ cật khuy tại diện tiền
    Không nghe người lớn thì sẽ gặp bất lợi

    Mãnh hổ nan địch quần hồ 
    (Hổ dữ cũng không thể đánh thắng một thế lực cáo già) -> Hổ mạnh khó địch lại bầy chồn

    Mỹ nhân tự cổ như danh tướng -> Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu
    (Tự ngàn xưa, người đẹp ví như tướng tài)

    一本万利
    Yī běn wàn lì
    -> 
    nhất bổn vạn lợi
    Một vốn bốn lời

    Nhân bất học bất tri lý
    (Người không học, không suy xét được phải trái)

    Ngọc bất trác, bất thành khí 
    (Ngọc không mài giũa, không sáng đẹp)

    Ngọc khiết băng thanh.
    (dùng để tả sự trong trắng, tinh khiết của người con gái) 

    Nhất nghệ tinh, Nhất thân vinh 
    (Giỏi một nghề thì ấm thân. Câu này rất đúng trong quá khứ nhưng chỉ đúng một phần cho thời buổi chộp giựt như hiện tại) 

    Nhân sinh vô thập toàn 
    ( Đã là con người thì không có ai là hoàn mỹ )

    Ngôn sở bất tri, Tri sở bất ngôn .
    ( Người nói ra thì không biết, Người biết thì không nói ra.) 

    Nhi nữ tình trường , Anh hùng khí đoản 
    (Câu này mà dịch theo nghĩa đen, thì nó tục lắm nhưng nó có một cái nghĩa bóng lợi hại hơn nhiều "Vướng vào vòng tục luỵ trai gái thì người anh hùng sẽ không còn chí khí nữa". 

    Nhàn cư vi bất thiện. 
    (Ở không lười biếng sẽ sinh ra tật xấu) 

    Oan oan tương báo, Dỉ hận miên miên. ( Dĩ hận miên miên bất tuyệt kỳ ) 
    -> Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ (câu này phát xuất từ bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị)
    Nỗi oán thù không dứt, hận thù sẽ đời đời. (Nỗi hận triền miên không bao giờ hết) 

    Oan gia gia trả , Oan tình tình vương.
    (Nỗi oan trong gia đình thì gia đình giải quyết, Nỗi oan trong tình trường thì khó giải quyết, hệ luỵ còn vương vấn mãi.)

    Pháp bất vị thân, Nghĩa bất dung tình. 
    ( Có nghĩa là người nắm luật pháp không nên nể vì người thân mà nhẹ tay. Còn "nghĩa bất dung tình" chính nghĩa cũng không nể vì tình nghĩa. 

    Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. 
    ( May mắn có thể không lặp lại nhưng điều xui xẻo thì hay đến liên tiếp trong một khoảng thời gian nhất định nào đó) 

    Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc. 
    (Giàu có thì sinh ra nghi thức, lễ nghĩa. Nghèo khổ thì sinh ra kẻ xấu tính, ăn cắp, ăn trộm...Điều này đúng với mọi thời đại) 

    Phục hổ, tàng Long 
    ( Con hổ đang nằm, và con rồng đang ẩn cư. Để chỉ người có tài đang núp dưới danh phận nào đó)

    千里送鹅毛 / 礼轻情意重
    Qiān lǐ  sòng ér máo  / lǐ  qīng qíng  yì zhòng
    -> 
    thiên lí tống nga mao / lễ khinh tình ý trọng
    Quà ít lòng nhiều (Của ít lòng nhiều)


    Quốc hữu quốc pháp, Gia hữu gia quy. 
    Nước có luật nước, gia đình có luật lệ của gia đình.

    Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên 
    (Sống chết là tại số kiếp, giàu có do trời xếp đặt)

    Song hổ phân tranh, nhất hổ tử vong 
    (Hai con cọp mà đánh nhau thì phải có một con chết) 

    Tận nhân lực, tri thiên mệnh 
    (Làm hết sức của mình mới hiểu được ý trời)  

    Tống cựu, nghinh tân 
    (Dẹp bỏ cái cũ, chào đón cái mới. Câu này hay được dùng trong những dịp cuối năm) 

    Tha hương ngộ cố tri 
    (Xa quê hương, gặp lại người đồng hương) 

    Tha phương cầu thực. 
    (Cầu thực để chỉ mong muốn được ăn no. Ngày xưa người ta làm chỉ mong được ăn cho no, mặc cho ấm thôi. Ngày nay câu này có ý nghiã rộng hơn, đi làm ăn xa để mong khấm khá hơn)

    失败是成功之母.
    shi bai shi cheng gong zhi mu:
    -> 
    thất bại thị thành công chi mẫu.
    Thất bại là mẹ của thành công

    放虎归山 
    Fàng hǔ guī shān
    -> 
    phóng hổ quy san
    Thả hổ về rừng

    Tham sanh huý (uý) tử 
    (Ham sống sợ chết. Phần lớn ai mà chả thế  ) 

    胜不骄,败不馁 
    Shèng bù jiāo,   bài bù něi
    -> 
    thắng bất kiêu, bại bất nỗi
    Thắng không kiêu, bại không nản

    Thi ân bất cầu báo. 
    (Làm ơn không cần báo đáp) 

    Thiên bất dung gian 
    (Trời không tha cho kẻ gian tà, kẻ có hành động xấu xa) 

    Thiên ngoại hữu thiên, Nhân ngoại hữu nhân 
    (Bên ngoài bầu trời có bầu trời khác, người tài có người tài hơn. Tương đương với câu tục ngữ "vỏ quít dầy có móng tay nhọn" hoặc "cao nhân đắc hữu cao nhân trị" ) 

    Thiên lý tuần hoàn 
    (Lẽ trời xoay chuyển. Không có gì tồn tại mãi )

    Thiên duyên tiền định 
    (Tình duyên là do trời định) 

    Thiên thai lạc lối, Thiên thu lạc đường.
    (Ý chỉ ra rằng ham vui, ham vật chất, làm những điều sai trái thì sẽ không thể trở lại được nẻo ngay. Thực vậy, vật chất làm cho con người mờ mắt, khi đã có, muốn có thêm, khi đã sai càng sai thêm..)

    Thiên la địa võng 
    (Lưới trời lồng lộng. Câu này để chỉ làm ác sẽ có ngày gặp hậu quả. Không bị người phạt thì cũng bị trời phạt)

    Thọ ân mạc khả vong 
    (Nhận ơn thì không bao giờ quên) 

    Thời thế tạo anh hùng 
    (Những thay đổi khách quan trong hoàn cảnh như loạn lạc chẳng hạn sẽ sinh ra người tài để dẹp loạn. Câu này trái nghĩa với câu "anh hùng tạo thời thế" có nghĩa là có một người nào có một ý nghĩ hay, một hành động hay đứng ra thuyết phục được đám đông rồi từ đó thay đổi hoàn cảnh, lịch sử...) 

    Thuận thiên hành đạo 
    (Hành động theo ý trời là Thụ động. Khác với câu "thế thiên hành đạo"là chủ động ra tay !)

    Tiểu phú do cần, triệu phú do thiên -> Đại phú do thiên, tiểu phú do cần
    (Giàu nhỏ do tích tụ cần kiệm, giàu to do trời ban) 

    Tiểu Nhân đắc chí, Quân Tử gặp phiền (gặp là chữ Hán Việt?) :thua: 
    (Kẻ xấu lên mặt, người tốt cảm thấy khó chịu) 

    Tiên hạ thủ di (vi) cường -> viết "di" vô nghĩa
    (Ra tay trước sẽ dành ưu thế. Chỉ đúng trong vài trường hợp. Thường thì dùng "tuỳ cơ ứng biến" là hay nhất. Đôi khi lùi lại ba bước để xem đối thủ ra chiêu gì rồi mình mới tiếp chiêu. Kẻ khôn thường sẽ không ra chiêu trước mà chờ đối phương ra chiêu để đánh giá thực hư rồi mới hành động) 

    Tích cốc phòng cơ, tích tơ phòng hàn -> Tích cốc phòng cơ tích y phòng hàn
    (Để dành đồ ăn cho những lúc đói kém cơ cực, để dành áo ấm cho những lúc đói rét) 

    才脱了阎王 / 又撞着小鬼
    Cái tuō le yán wáng / yòu zhuàng zhe xiǎo guǐ
    -> 
    tài thoát liễu diêm vương / hựu tràng trứ tiểu quỷ
    Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa

    年幼无知
    Nián yòu wú zhī
    -> 
    niên ấu vô tri
    Trẻ người non dạ

    Tứ hải giai huynh đệ 
    Bốn bể đều là anh em. Cả loài người đều là anh em.

    Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa. 
    ( Uống rượu chung với tri kỷ, hoặc là người hiểu mình thì uống cả ngàn ly cũng chả say. Nói với người không hiểu mình thì có nói nhiều họ cũng không hiểu dù chỉ nữa câu.)

    Tửu nhập sầu trường, sầu càng sầu 
    (Uống rượu để giải toả nỗi buồn dai dẳng thì buồn càng buồn hơn)

    Uy vũ bất năng khuất 
    (Bạo lực không khuất phục được lòng người)

    酒入言出
    Jiǔ  rù yán chū
    ->
     tửu nhập ngôn xuất
    Rượu vào lời ra

    Vạn sự khởi đầu nan 
    (Việc gì bắt đầu bao giờ cũng có nhiều khó khăn, gian nan)

    Vô can kỷ sự, bất khả đương đầu 
    (Việc không liên quan đến mình thì khó mà chống đỡ)

    Ý tại ngôn ngoại 
    (Người nghe có thể hiểu ngầm hoặc khác ý người nói)

     
    Gửi ý kiến